Cạnh tranh có sự điều tiết của Nhà nước là hình thức cạnh tranh mà ở đó Nhà nước bằng các chính sách và công cụ pháp luật can thiệp vào đời sống thị trường để điều tiết, hướng các quan hệ cạnh tranh vận động và phát triển trong một trật tự.
Nghịch lí của giá trị (tiếng Anh: Paradox of value) là quan điểm cho rằng giá trị (và giá cả) của hàng hóa là do sự khan hiếm tương đối, chứ không phải do sự hữu ích của nó quyết định.
Đa cộng tuyến (tiếng Anh: Multicollinearity) hiện tượng các biến độc lập trong mô hình hồi qui phụ thuộc tuyến tính lẫn nhau, thể hiện dưới dạng hàm số (vi phạm giả định 5 của mô hình hồi qui tuyến tính).
Cạnh tranh tự do (tiếng Anh: Free Competition) là mô hình cạnh tranh mà ở đó các chủ thể tham gia cuộc tranh đua hoàn toàn chủ động và tự do ý chí trong việc xây dựng và thực hiện các chiến lược, các kế hoạch kinh doanh của mình.
Chi tiêu tự định (tiếng Anh: Autonomous Expenditure) là tất cả các khoản chi trong tổng chi tiêu không bị ảnh hưởng bởi mức thu nhập thực tế của một nền kinh tế.
Tiêu dùng tự định (tiếng Anh: Autonomous Consumption) là các khoản chi tiêu mà người tiêu dùng phải thực hiện ngay cả khi họ không có thu nhập khả dụng.
Hiệu ứng son môi (tiếng Anh: Lipstick Effect) là khi người tiêu dùng vẫn chi tiền cho những khoản chi tiêu nhỏ thuộc về sở thích trong thời kì suy thoái.
Dự trữ tiền mặt (tiếng Anh: Cash Reserves) là số tiền mặt một công ty hoặc cá nhân luôn có sẵn để đáp ứng nhu cầu tài trợ ngắn hạn hay các khoản khẩn cấp.
Người theo trường phái trọng tiền (tiếng Anh: Monetarist) là những nhà kinh tế học tin rằng hiệu suất của nền kinh tế được xác định gần như hoàn toàn bởi những thay đổi trong cung tiền.
Hiệu ứng tiêu đề (tiếng Anh: Headline Effect) đề cập đến hiệu ứng mà tin tức tiêu cực của truyền thông đại chúng gây ra tới một doanh nghiệp hoặc nền kinh tế. Nhiều nhà kinh tế học tin rằng chúng khiến cho người tiêu dùng ngại chi tiêu hơn.
Tăng trưởng tự thân (tiếng Anh: Organic Growth) là tốc độ tăng trưởng mà một công ty có thể đạt được bằng cách tăng sản lượng và doanh thu bán hàng từ bên trong.
Hiệu ứng Robin Hood (tiếng Anh: Robin Hood Effect) là việc người nghèo thu được lợi ích về mặt kinh tế, nhưng điều này lại khiến người giàu có phải chịu tổn thất.
Tăng trưởng ngoại sinh (tiếng Anh: Inorganic Growth) là sự mở rộng công ty bằng cách tham gia vào các liên minh chiến lược hoặc sáp nhập/mua lại các doanh nghiệp khác.
Điểm dân cư đô thị là điểm dân cư tập trung phần lớn những người dân phi nông nghiệp, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ, có cơ sở hạ tầng phù hợp.
Xu hướng nhập khẩu cận biên (tiếng Anh: Marginal Propensity To Import, viết tắt: MPM) là tỉ lệ nhập khẩu tăng lên hoặc giảm xuống trên mỗi đơn vị thu nhập khả dụng tăng lên hoặc giảm xuống.
Tăng trưởng bần cùng hóa (tiếng Anh: Immiserizing growth) là tình huống trong đó một nước đang phát triển tìm cách tăng tiềm năng tăng trưởng thông qua tăng xuất khẩu, nhưng chính điều này lại trở thành yếu tố cản trở quá trình tăng trưởng.
Ông Bùi Nguyên Khoa, Phó Giám đốc Trung tâm Phân tích Nghiên cứu của Chứng khoán BIDV, đưa ra các kịch bản cho VN-Index trong tháng 9, đồng thời đánh giá những yếu tố có thể tác động đến thị trường và nhóm ngành được kỳ vọng hưởng lợi.