|
 Thuật ngữ VietnamBiz
Hàng hóa

Giá lúa gạo hôm nay 29/4: Thị trường lặng sóng, Philippines có nguy cơ thiếu hụt gạo

13:14 | 29/04/2026
Chia sẻ
Giá lúa gạo hôm nay tại thị trường trong nước nhìn chung khá ổn định, duy nhất gạo thường giảm 1.000 đồng/kg. Trên thị trường quốc tế, Philippines có thể phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt nguồn cung gạo trong năm nay do sản lượng giảm và các rủi ro địa chính trị từ bên ngoài.

Giá lúa gạo hôm nay

Ghi nhận trong sáng nay, giá lúa gạo tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long vẫn ổn định so với ngày hôm trước.

Cụ thể, giá gạo nguyên liệu IR 504 dao động trong khoảng 8.400 – 8.500 đồng/kg, trong khi gạo nguyên liệu CL 555 có giá 8.600 – 8.800 đồng/kg.

Ở nhóm phụ phẩm, tấm 2 tiếp tục giữ nguyên ở mức 7.250 – 7.350 đồng/kg, giá cám từ 6.600 – 6.750 đồng/kg.

Với mặt hàng lúa, theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, hiện giá lúa tươi OM 18 và Đài Thơm 8 dao động ở mốc 6.000 - 6.100 đồng/kg; giá lúa OM 5451 (tươi) dao động mốc 5.600 - 5.700 đồng/kg; giá lúa IR 50404 (tươi) dao động ở mức 5.400 - 5.500 đồng/kg; giá lúa OM 34 (tươi) dao động mốc 5.100 - 5.200 đồng/kg.

Tại các chợ lẻ, giá gạo thường giảm 1.000 đồng/kg so với tuần trước, dao động ở mốc 12.000 - 13.000 đồng/kg. Hiện gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 13.000 - 14.000 đồng/kg.

Giá lúa gạo ĐVT Giá tại chợ (đồng) Tăng (+), giảm (-) so với hôm trước
- Nguyên liệu IR 504 kg 8.400 – 8.500 -
- Nguyên liệu CL 555 kg 8.600 – 8.800 -
- Tấm 2 kg 7.250 – 7.350 -
- Cám kg 6.600 – 6.750 -
- Lúa tươi OM 18 kg 6.000 – 6.100 -
- Lúa tươi Đài Thơm 8 kg 6.000 – 6.100 -
- Lúa tươi OM 5451 kg 5.600 – 5.700 -
- Lúa tươi IR 50404 kg 5.400 – 5.500 -
- Lúa tươi OM 34 kg 5.100 – 5.200 -

Bảng giá gạo hôm nay 29/4 tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. (Nguồn: Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang và Luagaoviet.com)

Giá gạo xuất khẩu

Trên thị trường xuất khẩu, theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), gạo thơm 5% tấm của Việt Nam vẫn được giao dịch ở mức 490–500 USD/tấn, gạo Jasmine trong khoảng 486 - 490 USD/tấn, còn gạo trắng 5% tấm có giá 386 – 390 USD/tấn.

Tại các quốc gia xuất khẩu hàng đầu khác, giá gạo trắng 5% tấm của Thái Lan dao động trong khoảng 388 – 392 USD/tấn. Sản phẩm cùng loại của Pakistan có giá 358 - 362 USD/tấn. Trong khi đó, gạo trắng 5% tấm của Ấn Độ duy trì ở mức 346 - 350 USD/tấn, gạo đồ 5% tấm đạt 344–348 USD/tấn.

 

Theo Manila Times, Liên đoàn Nông dân Tự do Philippines (FFF) cho biết Philippines có thể phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt nguồn cung gạo trong năm nay do sản lượng giảm và các rủi ro địa chính trị từ bên ngoài.

Tổ chức này — với 200.000 thành viên gồm các chủ đất nhỏ, nông dân thuê đất, lao động nông nghiệp, người khai hoang và ngư dân — dự báo sản lượng lúa trong sẽ giảm 6% trong nửa đầu năm do diện tích gieo trồng giảm sau khi giá lúa (gạo chưa xay xát) xuống thấp trong năm 2025.

Năm ngoái, sản lượng lúa đạt 19,68 triệu tấn, tương đương khoảng 12,4 triệu tấn gạo, theo FFF. Cộng thêm lượng tồn kho chuyển sang từ năm 2024, tổng nguồn cung gạo đạt 14,6 triệu tấn.

FFF cho biết, mặc dù thấp hơn mức tiêu thụ của năm ngoái (15,76 triệu tấn), lượng thiếu hụt này được bù đắp bằng nhập khẩu, giúp tồn kho cuối năm 2025 và đầu năm 2026 đạt 2,34 triệu tấn.

Cũng trong năm ngoái, giá lúa có lúc giảm xuống chỉ còn 8 peso/kg, thấp hơn chi phí sản xuất tại một số khu vực, khiến chính phủ phải áp đặt lệnh cấm nhập khẩu gạo trong 4 tháng.

Về triển vọng trong nửa cuối năm, FFF đưa ra 5 kịch bản với mức suy giảm sản lượng từ 10% đến 50% so với sản lượng thu hoạch 10,6 triệu tấn lúa của cùng kỳ năm trước.

Theo kịch bản cơ sở, nếu sản lượng lúa nửa cuối năm giảm 10%, tổng nguồn cung (bao gồm tồn kho chuyển sang) sẽ giảm còn 13,7 triệu tấn.

Trong kịch bản xấu nhất, khi sản lượng giảm tới 50% do chi phí đầu vào cao và hiện tượng El Niño nghiêm trọng, nguồn cung có thể giảm xuống chỉ còn hơn 11 triệu tấn. FFF cho biết điều này cũng có thể dẫn đến thiếu hụt khoảng 2,2 triệu tấn gạo.

Trong khi đó, nhu cầu trong nước được dự báo sẽ tăng. Theo FFF, tiêu thụ gạo làm lương thực dự kiến tăng 3% mỗi năm, đạt 14,5 triệu tấn.

Tổng nhu cầu tiêu thụ dự kiến trong năm 2026, bao gồm làm giống, sử dụng trong công nghiệp và hao hụt, được dự báo ở mức từ 15,6 đến 16 triệu tấn.

Điều này đồng nghĩa với việc cần nhập khẩu để duy trì mức dự trữ an toàn 60 ngày cho năm 2027. Nếu sản lượng lúa nửa cuối năm giảm 10%, quốc gia này sẽ phải nhập khẩu 4,6 triệu tấn gạo, cao hơn 30% so với lượng nhập khẩu năm 2025.

Nếu sản lượng giảm 50%, lượng nhập khẩu có thể tăng lên gần 7 triệu tấn. FFF cảnh báo việc phụ thuộc vào nhập khẩu để bù đắp thiếu hụt nguồn cung là “cực kỳ rủi ro” trong bối cảnh hiện nay.

Ví dụ, FFF cho biết nhu cầu nhập khẩu 7 triệu tấn sẽ buộc Việt Nam phải dành gần 90% năng lực xuất khẩu hằng năm cho Philippines, điều mà Việt Nam có thể không sẵn sàng sau khi đã chịu tác động từ lệnh cấm nhập khẩu vào năm ngoái.

FFF cũng lưu ý rằng chiến sự tại Iran sẽ tiếp tục đe dọa nguồn cung gạo toàn cầu do chi phí vận chuyển tăng, đồng thời kêu gọi hỗ trợ khẩn cấp về phân bón cho các vụ gieo trồng mùa mưa, cũng như các biện pháp can thiệp nhằm giảm thiểu tác động của chi phí nhiên liệu và giá phân bón cao, cùng với tình trạng khan hiếm nước.

Hoàng Hiệp

Cập nhật BCTC quý I ngày 29/4: Thêm nhiều khoản lãi nghìn tỷ được công bố
Kết quả kinh doanh quý I/2026 cho thấy xu hướng tích cực, khi số doanh nghiệp tăng doanh thu và tăng lợi nhuận đều chiếm ưu thế. Nhóm ngân hàng, chứng khoán, hàng tiêu dùng, bán lẻ ghi nhận nhiều công ty có sự tăng trưởng lợi nhuận so với cùng kỳ.