|
 Thuật ngữ VietnamBiz
Hàng hóa

Giá lúa gạo hôm nay 12/5: Duy trì ở mức cao nhất trong số các nước xuất khẩu hàng đầu

14:52 | 12/05/2026
Chia sẻ
Giá lúa gạo hôm nay nhìn chung ổn định, với gạo trắng 5% tấm của Việt Nam đang ở mức cao nhất trong nhóm các nước xuất khẩu hàng đầu. Trong khi đó, Campuchia kỳ vọng xuất khẩu gạo vượt 1 triệu tấn trong năm 2026 nhờ mở rộng thị trường và nhu cầu tăng từ Trung Quốc, châu Âu và Philippines.

Giá lúa gạo hôm nay

Theo ghi nhận, giá lúa gạo hôm nay tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nhìn chung ổn định so với ngày hôm trước.

Cụ thể, giá gạo nguyên liệu IR 504 được giao dịch trong khoảng 8.400 – 8.550 đồng/kg, trong khi gạo nguyên liệu CL 555 duy trì ở mức cao hơn, dao động từ 9.000 – 9.100 đồng/kg.

Ở nhóm phụ phẩm, giá tấm 2 tiếp tục đi ngang ở mức 7.500 – 7.600 đồng/kg, còn giá cám dao động trong khoảng 6.700 – 6.900 đồng/kg.

Đối với mặt hàng lúa, theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa tươi OM 18 và Đài Thơm 8 hiện cùng dao động quanh mức 6.100 – 6.300 đồng/kg. Lúa OM 5451 được thu mua ở mức 5.600 – 5.700 đồng/kg, lúa IR 50404 dao động từ 5.400 – 5.500 đồng/kg, trong khi lúa OM 34 ghi nhận ở mức 5.100 – 5.200 đồng/kg.

Giá lúa gạo ĐVT Giá tại chợ (đồng) Tăng (+), giảm (-) so với hôm trước
- Nguyên liệu IR 504 kg 8.400 – 8.550 -
- Nguyên liệu CL 555 kg 9.000 – 9.100 -
- Tấm 2 kg 7.500 – 7.600 -
- Cám kg 6.700 – 6.900 -
- Lúa tươi OM 18 kg 6.100 – 6.300 -
- Lúa tươi Đài Thơm 8 kg 6.100 – 6.300 -
- Lúa tươi OM 5451 kg 5.600 – 5.700 -
- Lúa tươi IR 50404 kg 5.400 – 5.500 -
- Lúa tươi OM 34 kg 5.100 – 5.200 -

Bảng giá gạo hôm nay 12/5 tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. (Nguồn: Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang và Luagaoviet.com)

Giá gạo xuất khẩu

Trên thị trường xuất khẩu, theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), giá gạo thơm 5% tấm của Việt Nam hiện được chào bán ở mức 510 - 520 USD/tấn, trong khi gạo Jasmine dao động từ 513 - 517 USD/tấn. Đối với gạo trắng 5% tấm, giá xuất khẩu đang ở mức 399 - 403 USD/tấn – cao nhất trong số các nước xuất khẩu hàng đầu trong khu vực.

Tại các quốc gia xuất khẩu lớn khác, giá gạo trắng 5% tấm của Thái Lan dao động từ 396 - 400 USD/tấn.

Tại Pakistan, sản phẩm cùng loại được chào bán ở mức 350 - 354 USD/tấn.

Trong khi đó, Ấn Độ tiếp tục duy trì mức giá thấp nhất thị trường, với gạo trắng 5% tấm ở mức 345 - 349 USD/tấn và gạo đồ 5% tấm dao động từ 337 - 341 USD/tấn.

 

Thông tin với Platts - đơn vị thuộc S&P Global Energy, ông Oknha Lay Chhun Hour, Chủ tịch Liên đoàn Gạo Campuchia, cho biết xuất khẩu gạo của nước này được kỳ vọng sẽ vượt 1 triệu tấn trong năm 2026 nhờ đa dạng hóa thị trường, hỗ trợ tài chính từ chính phủ và nhu cầu gia tăng từ Trung Quốc, châu Âu và Philippines.

Theo ông Chhun Hour, trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 4/2026, Campuchia đã xuất khẩu gần 470.000 tấn gạo và vẫn đang trên đà đạt được mục tiêu xuất khẩu 1 triệu tấn đã đề ra từ lâu.

“Campuchia gần như đã đạt mục tiêu xuất khẩu 1 triệu tấn mà chính phủ đề ra từ nhiều năm trước và năm nay chúng tôi kỳ vọng xuất khẩu sẽ vượt con số đó,” ông nói.

Mục tiêu xuất khẩu 1 triệu tấn gạo được chính thức đặt ra vào tháng 8/2010 dưới thời cựu Thủ tướng Samdech Techo Hun Sen.

Ông Chhun Hour cho biết xuất khẩu gạo của Campuchia trong 4 tháng đầu năm 2026 tăng 66% so với cùng kỳ năm trước, nhờ vào sự gia tăng xuất khẩu mạnh mẽ sang châu Âu, Trung Quốc và các thị trường khu vực châu Á.

Chiến lược của Liên đoàn Gạo Campuchia tập trung vào ba trụ cột: đa dạng hóa thị trường, tạo điều kiện thuận lợi về tài chính và phát triển thương hiệu.

Trung Quốc vẫn là đối tác thương mại gạo quan trọng nhất của Campuchia. Bên cạnh đó, Liên đoàn đang mở rộng sang các thị trường mới như Trung Đông, các nước châu Á khác, Tây Phi, châu Đại Dương và Mỹ.

“Chúng tôi tập trung vào phân khúc trung và cao cấp, đồng thời tận dụng lợi thế tự nhiên của Campuchia đối với các giống gạo chất lượng cao,” ông cho biết.

Ông Chhun Hour cho biết nhu cầu đối với các loại gạo thơm cao cấp của Campuchia như SKO, SRO và Jasmine tại châu Âu đang rất mạnh, trong khi nhu cầu đối với gạo OM 5451 từ Trung Quốc và Philippines cũng tăng đáng kể.

“Cách đây vài tuần, giá gạo OM 5451 chỉ khoảng 450 USD/tấn nhưng hiện đã vượt 500 USD/tấn,” ông nói.

Ông Chhun Hour cho biết chính phủ Campuchia đã triển khai các chương trình hỗ trợ tài chính khẩn cấp nhằm hỗ trợ các nhà máy xay xát và ổn định giá lúa trong mùa thu hoạch.

Nguồn vốn lãi suất thấp, được triển khai thông qua Bộ Kinh tế và Tài chính, cho phép các nhà máy thu mua lúa trực tiếp từ nông dân và tăng lượng dự trữ trong kho.

“Năm nay, chính phủ đã giải ngân quỹ khẩn cấp để hỗ trợ cả nông dân và doanh nghiệp xay xát sau khi giá lúa giảm mạnh hồi đầu năm,” ông cho biết.

Liên đoàn cũng phối hợp với các cơ quan chức năng nhằm giảm chi phí sản xuất, đặc biệt là chi phí điện và logistics, để nâng cao khả năng cạnh tranh với các nhà cung cấp như Thái Lan, Việt Nam và Ấn Độ.

Chính phủ đã phân bổ nguồn vốn thông qua Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp và Nông thôn cùng các chương trình bảo lãnh tín dụng nhằm hỗ trợ nhu cầu vốn lưu động cho các nhà máy xay xát.

Platts định giá gạo Thái Hom Mali 100% loại B ở mức 1.210 USD/tấn FOB FCL ngày 8/5, tăng 100 USD/tấn so với tháng trước. Trong khi đó, giá gạo thơm 5% tấm của Việt Nam được báo giá ở mức 500 USD/tấn FOB, tăng 49 USD/tấn so với tháng trước.

Ông Chhun Hour cho biết giá gạo Campuchia thường cao hơn so với các nước châu Á cạnh tranh khác, nhưng nhấn mạnh rằng nước này đang theo đuổi chiến lược xuất khẩu dựa trên giá trị thay vì chỉ tập trung vào sản lượng.

“Campuchia đang chuyển từ mô hình ‘bằng mọi giá phải tăng sản lượng’ sang chiến lược chú trọng giá trị,” ông nói.

Theo ông Chhun Hour, giá gạo xuất khẩu của Campuchia có thể tăng thêm 5%-10% trong ba tháng tới do chi phí vận chuyển, bảo hiểm và phân bón tăng bởi căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông.

“Thị trường nội địa sẽ duy trì ổn định hoặc tăng nhẹ, nhưng giá FOB xuất khẩu dự kiến sẽ tăng do chi phí logistics và vận tải cao hơn,” ông cho biết.

Ông dự báo giá gạo thơm Phka Malis có thể tăng lên tới 870 USD/tấn từ tháng 7 trở đi.

Hoàng Hiệp

Cách tính tỷ lệ tín dụng trên huy động vốn (CDR) có thể làm tăng áp lực thanh khoản ngân hàng
SSI Reserch cho rằng việc áp dụng ngay lập tức sẽ buộc các ngân hàng có CDR cao cạnh tranh quyết liệt để huy động vốn thị trường 1, làm chậm tăng trưởng tín dụng hoặc phát hành thêm chứng chỉ tiền gửi /trái phiếu dài hạn, qua đó gia tăng chi phí vốn và gây áp lực lên NIM.