|
 Thuật ngữ VietnamBiz
Kiến thức Kinh tế

Lí thuyết phản thân (Reflexivity) trong kinh tế học là gì? Các nội dung về lí thuyết phản thân

14:12 | 29/10/2019
Chia sẻ
Lí thuyết phản thân (tiếng Anh: Reflexivity) trong kinh tế học là lí thuyết cho rằng một vòng phản hồi tồn tại trong đó nhận thức của nhà đầu tư ảnh hưởng đến nguyên tắc cơ bản của nền kinh tế...
image

Hình minh họa (Nguồn: annettemarkham.com)

Lí thuyết phản thân (Reflexivity)

Khái niệm

Lí thuyết phản thân hay thuyết phản hồi trong tiếng Anh là Reflexivity.

Lí thuyết phản thân trong kinh tế học là lí thuyết cho rằng một vòng phản hồi tồn tại trong đó nhận thức của nhà đầu tư ảnh hưởng đến nguyên tắc cơ bản của nền kinh tế, từ đó thay đổi nhận thức của nhà đầu tư. Lí thuyết phản thân có nguồn gốc từ xã hội học nhưng trong thế giới kinh tế và tài chính, người đề xuất chính của nó là George Soros. 

Soros tin rằng lí thuyết phản thân làm mất đi phần lớn lí thuyết kinh tế chính thống và sẽ trở thành một trọng tâm chính của nghiên cứu kinh tế, thậm chí còn đưa ra tuyên bố phô trương rằng nó "làm phát sinh một phẩm hạnh mới cũng như nhận thức luận mới".

Các nội dung về lí thuyết phản thân

Lí thuyết phản thân nói rằng các nhà đầu tư không dựa trên quyết định của họ về thực tế mà thay vào đó là nhận thức của họ về thực tế. Các hành động xuất phát từ những nhận thức này có tác động đến thực tế hoặc các nguyên tắc cơ bản, sau đó ảnh hưởng đến nhận thức của nhà đầu tư và theo đó là giá cả. 

Quá trình này tự củng cố và có xu hướng mất cân bằng khiến cho giá cả ngày càng tách rời khỏi thực tế. Soros xem cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu như một minh họa cho lí thuyết này. 

Theo quan điểm của ông, giá nhà ở tăng khiến các ngân hàng tăng khoản cho vay thế chấp nhà ở và đến lượt mình, cho vay tăng đã đẩy giá nhà lên cao. Nếu không kiểm tra giá cả tăng nó sẽ dẫn đến bong bóng giá, sau là sụp đổ dẫn đến khủng hoảng tài chính và đại suy thoái kinh tế.

Lí thuyết phản thân so với các khái niệm cân bằng kinh tế

Lí thuyết phản thân của Soros đối nghịch với các khái niệm về cân bằng kinh tế, kì vọng hợp lí và giả thuyết thị trường hiệu quả. Trong lí thuyết kinh tế chính thống, giá cân bằng được ngụ ý bởi các nguyên tắc kinh tế cơ bản quyết định cung và cầu.

Những thay đổi về nguyên tắc kinh tế (chẳng hạn như sở thích của người tiêu dùng và sự khan hiếm tài nguyên thực sự) sẽ khiến những người tham gia thị trường trả giá cao hoặc thấp dựa trên những kì vọng hợp lí của họ về những gì nguyên tắc kinh tế cơ bản ngụ ý về giá cả trong tương lai.

Quá trình này bao gồm cả phản hồi tích cực và tiêu cực giữa giá cả và kì vọng về các nguyên tắc kinh tế cơ bản cần lưu ý, cân bằng lẫn nhau ở một mức giá cân bằng mới. 

Trong trường hợp không có những trở ngại lớn trong việc truyền đạt thông tin liên quan đến các nguyên tắc kinh tế cơ bản và tham gia vào các giao dịch ở mức giá thỏa thuận chung, quá trình giá này sẽ có xu hướng giữ cho thị trường di chuyển nhanh chóng và hiệu quả về trạng thái cân bằng.

Soros tin rằng tính phản xạ thách thức ý tưởng về trạng thái cân bằng kinh tế bởi vì điều đó có nghĩa là giá có thể đi chệch khỏi giá trị cân bằng một lượng đáng kể liên tục theo thời gian. 

Theo ý kiến của Soros, điều này là do quá trình hình thành giá là phản xạ và bị chi phối bởi các vòng phản hồi tích cực giữa giá và kì vọng. Khi một sự thay đổi về nguyên tắc kinh tế xảy ra, các vòng phản hồi tích cực này khiến giá bị giảm hoặc đạt đến mức cân bằng mới. 

Theo một cách nào đó, phản hồi tiêu cực thông thường sẽ giữa giá cả và kì vọng liên quan đến các nguyên tắc kinh tế cơ bản, sẽ làm đối trọng với các vòng phản hồi và thất bại tích cực này. Cuối cùng, xu hướng đảo ngược khi những người tham gia thị trường nhận ra rằng giá đã trở nên tách rời khỏi thực tế và điều chỉnh lại kì vọng của họ (mặc dù Soros không nhận ra đây là phản hồi tiêu cực).

Bằng chứng cho lí thuyết của mình, Soros chỉ ra chu kì bùng nổ và nhiều đợt bong bóng giá tiếp theo sau sự cố giá cả khi người ta tin rằng giá cả đi chệch khỏi giá trị cân bằng được bao hàm bởi các nguyên tắc kinh tế cơ bản. Ông thường đề cập đến việc sử dụng đòn bẩy và lợi ích từ tín dụng trong việc bắt đầu quá trình và vai trò của tỉ giá hối đoái thả nổi.

(Tài liệu tham khảo: investopedia.com)

TH