Hàng hóa

Chiến tranh thương mại rẽ lối đi mới cho thương mại LNG và đậu nành

19:35 | 04/04/2019

Chia sẻ

Cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung Quốc đã định hình lại dòng chảy quốc tế của hàng hóa, với việc Brazil nắm bắt cơ hội để đáp ứng nhu cầu đậu nành của Trung Quốc trong khi điều tương tự cũng diên ra đối với khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) của Australia.

Một năm kể từ những đợt thuế quan trả đũa đầu tiên, hai nền kinh tế lớn nhất thế giới vẫn trong bàn đàm phán để thỏa thuận về việc chấm dứt tranh chấp, với Trung Quốc cho biết sẽ tiếp tục giữ thuế quan bổ sung đối với ô tô do Mỹ sản xuất để tạo ra một "bầu không khí tốt " cho các cuộc trao đổi.

Tuy nhiên, những thay đổi trong mua sắm hàng hóa có thể kéo dài ngay cả sau khi quan hệ song phương được cải thiện.

"Không giống như các sản phẩm công nghiệp cần các cơ sở sản xuất lớn, như ô tô và chất bán dẫn, thật dễ dàng tìm được đối tác thương mại mới về các nguồn tài nguyên", Daisuke Yamamoto, nhà kinh tế cấp cao của Viện nghiên cứu Sojitz, Tokyo cho biết.

Dấu hiệu của sự thay đổi xuất hiện vào năm ngoái tại một cơ sở xuất khẩu ngũ cốc tại miền Nam Brazil, thuộc sở hữu của công ty thương mại Nhật Bản Marubeni. Mùa thu, thời điểm xuất khẩu chính tại cơ sở thường chuyển từ đậu nành sang ngô, đã thay thế bằng sự gia tăng của các lô xuất khẩu đậu nành sang Trung Quốc, với tổng khối lượng xuất khẩu của vụ mùa trong tháng 9 - 12 tăng khoảng 150% trong năm.

"Yêu cầu từ Trung Quốc đối với đậu nành tiếp tục đến ngay cả sau mùa thu", một nhà lãnh đạo của Marubeni nói.

Mùa hè năm đó, Trung Quốc - nhà nhập khẩu đậu nành lớn nhất thế giới với 90 triệu tấn mỗi năm - đã áp thuế 25% đối với vụ mùa tại Mỹ để trả đũa thuế quan của Washington đối với hàng hóa Trung Quốc. Do đó, nhập khẩu đậu nành từ Mỹ đã giảm gần một nửa trong năm 2018 xuống còn 16,64 triệu tấn, trong khi đó, từ Brazil đã tăng khoảng 30% lên khoảng 66 triệu tấn.

Chiến tranh thương mại rẽ lối đi mới cho thương mại LNG và đậu nành - Ảnh 1.

Ảnh: Reuters.

Nhu cầu thấp hơn từ Trung Quốc, vốn đã mua khoảng 60% xuất khẩu đậu nành Mỹ, đã khiến người trồng tại quốc gia này phải tìm kiếm thị trường khác. Tính đến cuối tháng 3, xuất khẩu từ Mỹ sang Liên minh châu Âu (EU) trong 12 tháng đạt 6,74 triệu tấn - tăng hơn hai lần so với năm trước. Xuất khẩu sang các thị trường ở châu Á và châu Đại Dương, gồm cả Thái Lan, cũng tăng gần 30% trong năm.

Tuy nhiên, những sự gia tăng đó dự kiến sẽ không thể bù đắp sự sụt giảm về xuất khẩu sang Trung Quốc. Tổng sản lượng xuất khẩu đậu Mỹ trong năm tính đến tháng 8 được dự báo giảm 12% xuống 51,03 triệu tấn, khiến quốc gia này tụt lại phía sau Brazil, với xuất khẩu dự kiến tăng 4% lên 79,5 triệu tấn, theo Nikkei Asia Review.

LNG Australia lên ngôi tại thị trường Trung Quốc

Một mô hình tương tự đang diễn ra trong xuất khẩu năng lượng. Khối lượng xuất khẩu LNG của Mỹ chỉ tăng 53% trong năm 2018 lên khoảng 22,76 triệu tấn, giảm so với mức tăng trưởng gấp ba lần của năm trước, theo Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA).

Tháng 12/2018, ba tháng sau khi Bắc Kinh đánh thuế 10% đối với LNG từ Mỹ, khối lượng xuất khẩu nhiên liệu sang Trung Quốc của Mỹ đã giảm 80% so với năm 2017 xuống còn 80.000 tấn. Con số này đã giảm 9% trong năm 2018 xuống còn 1,96 triệu tấn sau khi tăng gấp sáu lần vào năm trước.

Sản lượng LNG của Mỹ vẫn tăng cao nhờ một cuộc cách mạng trong sản xuất khí đá phiến và Trung Quốc, đang triển khai chính sách loại bỏ than đá, đã là một người mua nhiệt tình. Với khối lượng nhập khẩu nhiên liệu trên đà tăng gấp 4 lần vào năm 2040, Trung Quốc đang tăng việc chuyển sang giao dịch với các nhà xuất khẩu khí đốt lâu năm, như Australia, để đáp ứng nhu cầu.

Đối với các nhà sản xuất như vậy, nhu cầu của Trung Quốc mang lại một phao cứu sinh tại thời điểm xuất khẩu tăng mạnh của Mỹ thu hẹp thị phần của họ. Theo Canberra, tổng khối lượng xuất khẩu LNG của Australia trong năm tính đến tháng 6 dự kiến sẽ tăng 23% lên 75,6 triệu tấn.

Trung Quốc cũng tìm kiếm nguồn cung cấp nhiên liệu ổn định trong thời gian dài, với PetroChina đã kí một hợp đồng 22 năm để nhập LNG từ nhà cung cấp Qatargas ở Trung Đông.

Dòng chảy thương mại của các sản phẩm sắt, thép, nhôm cũng thay đổi

Dòng chảy thương mại cũng đã bị thay đổi bởi thuế quan của Mỹ áp đặt dưới thời Tổng thống Donald Trump. Thống kê quốc gia cho thấy, nhập khẩu sắt thép của Mỹ đã giảm 11% xuống 30,57 triệu tấn trong năm 2018, với khối lượng xuất khẩu từ Trung Quốc giảm 14% và từ các nhà sản xuất lớn Hàn Quốc giảm gần 30%. Hàn Quốc đã được miễn thuế, nhưng phải đối mặt với hạn ngạch nhập khẩu thép của Mỹ.

Thay vào đó, các sản phẩm thép không thể vào Mỹ đã chảy sang châu Á. Ví dụ, thép cuộn cán nóng của Hàn Quốc được sử dụng trong các thiết bị, đã chuyển đến Ấn Độ, lãnh đạo một công ty thương mại cho biết.

Khối lượng xuất khẩu sang Ấn Độ tăng 10%, giúp hạn chế sự sụt giảm về tổng xuất khẩu thép của Hàn Quốc xuống còn khoảng 4%. Xuất khẩu nguyên liệu thép của Nhật Bản tại Trung Quốc đã tăng hàng năm kể từ tháng 9/2018.

Các nhà sản xuất nhôm, gồm cả Canada và một số quốc gia Nam Mỹ, cũng đã chuyển sang châu Á sau khi thuế quan của Mỹ tăng. Nhập khẩu nhôm của Nhật Bản từ Canada và Argentina đã tăng lần lượt 29% và 15%.

Nhiều nhà cung cấp Canada đã nhiệt tình bán hàng, đưa ra những chiết khấu về giá, theo một công ty thương mại.

Dấu hiệu về một thỏa thuận thương mại có thể xảy ra giữa Washington và Bắc Kinh đã xuất hiện khi các cuộc đàm tiếp diễn, với việc ông Trump đồng ý hoãn thời hạn ngày 1/3 để tăng thuế quan đối với Trung Quốc hồi tháng 2.

Mặc dù vậy, ngay cả khi mối quan hệ giữa hai nước bình thường trở lại, vẫn chưa rõ liệu dòng chảy hàng hóa sẽ trở lại mô hình trước đó hay không. Nguồn cung đậu nành Brazil tăng có thể đẩy giá xuống, thúc đẩy Trung Quốc mua thêm cây trồng từ Nam Mỹ.

Người mua Trung Quốc có thể suy nghĩ kĩ về việc kí hợp đồng với [đậu nành] Mỹ ngay cả khi mối quan hệ song phương cải thiện, theo Hideki Hattori tại công ty tư vấn Food Management Support, Itochu.

Lyly Cao

Theo Kinh tế & Tiêu dùng