|
 Thuật ngữ VietnamBiz
Hàng hóa

VASEP: Thủy sản Việt Nam không cạnh tranh trực diện với sản phẩm nội địa Mỹ

11:49 | 15/06/2026
Chia sẻ
Phúc đáp đề nghị tại Công văn 627 ngày 5/6/2026 của Cục Phòng vệ thương mại (Cục PVTM) về việc lấy ý kiến đối với Báo cáo sơ bộ điều tra 301 về lao động cưỡng bức của Mỹ, VASEP đã có văn bản gửi Cục PVTM, đề xuất các lập luận và kiến nghị liên quan đến nhóm sản phẩm thủy sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang thị trường Mỹ.

Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thuỷ sản (VASEP), cho biết theo thông tin Cục PVTM cung cấp, Cơ quan Đại diện Thương mại Mỹ đề xuất áp thuế bổ sung 12,5% đối với hàng hóa từ Việt Nam, đồng thời xem xét miễn trừ đối với một số nhóm sản phẩm nếu đáp ứng các tiêu chí như Mỹ không sản xuất đủ, không có nguồn cung thay thế phù hợp, việc áp thuế có thể gây gián đoạn chuỗi cung ứng hoặc không đóng góp đáng kể vào mục tiêu loại bỏ lao động cưỡng bức.

Trên cơ sở đó, VASEP đề nghị Cục PVTM xem xét tổng hợp lập luận đối với các nhóm thủy sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang Mỹ, gồm tôm, cá tra, cá ngừ, mực – bạch tuộc, cua ghẹ, nhuyễn thể và một số loài hải sản khác.

Thủy sản Việt Nam là nguồn cung bổ sung, không cạnh tranh trực diện với sản phẩm nội địa Mỹ

VASEP cho rằng thủy sản Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ chủ yếu là sản phẩm thực phẩm phục vụ tiêu dùng trực tiếp hoặc chế biến tiếp, có vai trò quan trọng trong chuỗi cung ứng của các nhà nhập khẩu, nhà phân phối, hệ thống bán lẻ, nhà hàng, dịch vụ thực phẩm và người tiêu dùng Mỹ.

Mỹ là thị trường nhập khẩu thủy sản hàng đầu của Việt Nam trong nhiều năm qua, với kim ngạch 1,8 – 2,1 tỷ USD/năm. Năm 2025, xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang Mỹ đạt 1,9 tỷ USD, tăng so với 1,8 tỷ USD năm 2024. Trong đó, các nhóm hàng chính gồm tôm, cá tra, cá ngừ, cua ghẹ, mực – bạch tuộc, nhuyễn thể và các loại cá biển khác.

VASEP kiến nghị đưa lập luận quan trọng vào tài liệu làm việc với phía Mỹ đó là nhiều sản phẩm thủy sản Việt Nam có sự khác biệt về loài, đặc điểm sinh học, phương thức sản xuất, vùng nuôi/trồng hoặc khai thác, quy cách chế biến và phân khúc tiêu dùng so với các loài thủy sản bản địa của Mỹ.

Vì vậy, các sản phẩm này không nên được xem là nguồn hàng cạnh tranh trực diện với sản phẩm nội địa Mỹ, mà là nguồn cung bổ sung, bù đắp và góp phần ổn định danh mục thực phẩm thủy sản cho thị trường Mỹ.

VASEP đề nghị không áp thuế bổ sung đối với các nhóm thủy sản chủ lực

Từ các phân tích nêu trong công văn, VASEP kiến nghị Cục Phòng vệ thương mại tổng hợp và đề nghị phía Mỹ không áp dụng thuế bổ sung theo Mục 301 đối với các nhóm thủy sản chủ lực của Việt Nam, trước hết là tôm, cá tra, cá ngừ, mực – bạch tuộc, cua ghẹ, nhuyễn thể và các sản phẩm thủy sản chế biến.

VASEP cũng đề nghị đưa nhóm thủy sản Việt Nam vào phạm vi xem xét miễn trừ, trên cơ sở đây là nhóm sản phẩm thực phẩm thiết yếu, Mỹ phụ thuộc lớn vào nhập khẩu, nguồn cung nội địa không đáp ứng đủ nhu cầu và việc áp thuế có thể gây gián đoạn chuỗi cung ứng thực phẩm, làm tăng chi phí cho nhà nhập khẩu, nhà phân phối, hệ thống bán lẻ, dịch vụ thực phẩm và người tiêu dùng Mỹ.

Đối với cách tiếp cận chính sách, VASEP đề nghị USTR không áp thuế đại trà theo quốc gia đối với toàn bộ sản phẩm Việt Nam, mà cần đánh giá theo ngành hàng và mức độ rủi ro thực tế. Theo VASEP, mọi đánh giá liên quan đến lao động cưỡng bức cần dựa trên bằng chứng cụ thể, dữ liệu khách quan và thực tiễn hoạt động của từng ngành hàng, từng doanh nghiệp, từng chuỗi cung ứng.

Đề nghị ghi nhận nỗ lực tuân thủ của ngành thủy sản Việt Nam

VASEP đề nghị phía Mỹ ghi nhận nỗ lực tuân thủ của ngành thủy sản Việt Nam về lao động, trách nhiệm xã hội, truy xuất nguồn gốc nguyên liệu, kiểm soát vùng nuôi, tàu khai thác, cơ sở thu mua, nhà cung cấp và nhà máy chế biến.

Theo VASEP, nhiều doanh nghiệp thủy sản Việt Nam đã áp dụng các chương trình đánh giá trách nhiệm xã hội, kiểm toán lao động và chứng nhận bền vững theo yêu cầu của khách hàng và thị trường nhập khẩu.

Do đó, việc áp thuế bổ sung đại trà theo quốc gia đối với toàn bộ sản phẩm thủy sản Việt Nam là chưa phản ánh đúng đặc thù quản trị chuỗi cung ứng và mức độ tuân thủ thực tế của ngành thủy sản xuất khẩu.

VASEP kiến nghị Cục PVTM sử dụng các lập luận nêu trên trong quá trình trao đổi, tham vấn, bình luận bằng văn bản và làm việc kỹ thuật với USTR, nhằm chứng minh rằng việc áp thuế bổ sung đối với thủy sản Việt Nam có thể gây tác động bất lợi tới chính chuỗi cung ứng thực phẩm và người tiêu dùng Mỹ, trong khi không trực tiếp góp phần xử lý vấn đề lao động cưỡng bức.

VASEP cũng kiến nghị tiếp tục thúc đẩy đối thoại kỹ thuật giữa các cơ quan liên quan của Việt Nam và Mỹ thay vì áp dụng biện pháp thuế bổ sung.

Trường hợp USTR vẫn xem xét biện pháp thuế, VASEP đề nghị có cơ chế miễn trừ hoặc loại trừ đối với các nhóm thủy sản chủ lực của Việt Nam, đặc biệt là các sản phẩm mà Mỹ phụ thuộc lớn vào nhập khẩu và nguồn cung nội địa không đáp ứng đủ nhu cầu thị trường.

H.Mĩ