|
 Thuật ngữ VietnamBiz
Kiến thức Kinh tế

Chi phí trực tiếp (Direct Cost) là gì? Đặc điểm và ví dụ

18:09 | 17/01/2020
Chia sẻ
Chi phí trực tiếp (tiếng Anh: Direct Cost) là một chi phí được gắn trực tiếp với việc sản xuất một hàng hóa hoặc dịch vụ cụ thể.
Chi phí trực tiếp (Direct Cost) là gì? Đặc điểm và ví dụ - Ảnh 1.

Hình minh họa. Nguồn: Stephengobeli.com

Chi phí trực tiếp

Khái niệm

Chi phí trực tiếp trong tiếng Anh là Direct Cost.

Chi phí trực tiếp là một chi phí được gắn trực tiếp với việc sản xuất một hàng hóa hoặc dịch vụ cụ thể. 

Chi phí trực tiếp là các đối tượng chi phí như chi phí của một dịch vụ, sản phẩm hoặc một bộ phận. 

Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp là hai loại chi phí chính mà mỗi công ty phải chịu. 

Chi phí trực tiếp thường là chi phí biến đổi hay có nghĩa là chúng dao động với các mức sản xuất khác nhau như chi phí hàng tồn kho. 

Các chi phí như chi phí gián tiếp khó phân bổ hơn cho một sản phẩm hay dịch vụ cụ thể như chi phí khấu hao và chi phí quản lí. 

Đặc điểm Chi phí trực tiếp 

Mặc dù chi phí trực tiếp thường là chi phí biến đổi, nhưng chúng cũng có thể là chi phí cố định. Ví dụ như tiền thuê một nhà máy có thể được gắn trực tiếp lên cơ sở sản xuất một hàng hóa nhất định. 

Thông thường, tiền thuê sẽ được coi là chi phí chung (Overhead Cost), tuy nhiên, các công ty có thể gắn tiền thuê là chi phí cố định cho các đơn vị sản xuất cho một cơ sở vật chất cụ thể.     

Ví dụ về Chi phí trực tiếp 

Bất kì chi phí nào liên quan đến việc sản xuất hàng hóa, ngay cả khi đó chỉ là một phần chi phí được phân bổ cho cơ sở sản xuất, được gọi là chi phí trực tiếp. Một số ví dụ về chi phí trực tiếp là:   

 - Chi phí lao động trực tiếp

 - Chi phí nguyên liệu trực tiếp 

 - Chi phí sản xuất vật tư 

 - Chi phí tiền lương cho nhân viên sản xuất 

 - Chi phí cho việc tiêu thụ nhiên liệu hoặc năng lượng 

Do chi phí trực tiếp có thể được xác định cho một sản phẩm cụ thể, chi phí trực tiếp không cần phải được phân bổ cho một sản phẩm, bộ phận hoặc các đối tượng chi phí khác.

Chi phí trực tiếp thường phù hợp hơn với việc liệt kê từng chi phí riêng còn các mục không phải là chi phí trực tiếp thường được gộp lại và phân bổ dựa trên cho các sản phẩm, bộ phận hay mục chi phí.    

Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp là hai loại chi phí chính liên quan đến sản xuất hàng hóa hoặc dịch vụ. Chi phí trực tiếp bắt nguồn trực tiếp từ việc sản xuất một sản phẩm hoặc dịch vụ, còn chi phí gián tiếp thì không.   

Chi phí cố định và Chi phí biến đổi 

Chi phí trực tiếp không phải lúc nào cũng là chi phí cố định, vì chi phí sản xuất một đơn vị sản phẩm có thể thay đổi theo thời gian và phụ thuộc vào số lượng được sản xuất. 

Ví dụ về chi phí trực tiếp là chi phí cố định là tiền lương cho giám sát viên làm việc trong một dự án cụ thể. Chi phí này có thể được qui trực tiếp cho dự án và là một số tiền cố định. 

Các vật liệu được sử dụng để tạo ra sản phẩm, như gỗ hay xăng là chi phí trực tiếp nhưng không không phải là một khoản chi phí cố định. 

Sự khác biệt này là do số tiền lương của người giám sát được biết trước, trong khi lượng đơn vị sản phẩm được sản xuất thay đổi phụ thuộc vào doanh số.   

Các biện pháp Định giá hàng tồn kho 

Sử dụng chi phí trực tiếp đòi hỏi doanh nghiệp phải quản lí chặt chẽ việc định giá hàng tồn kho khi hàng tồn kho được mua với số tiền khác nhau. 

Ví dụ, chi phí của một thành phần thiết yếu để sản xuất một mặt hàng có thể thay đổi theo thời gian. Giá của thành phần thiết yếu phải được qui là chi phí trực tiếp để sản xuất mặt hàng ngay khi mặt hàng đang được sản xuất.   

Giả sử một công ty đang xây dựng một căn nhà đã mua bộ cửa sổ phòng khách với giá 500$ và bộ cửa sổ phòng ngủ với giá 600$. 

Nếu công ty chỉ lắp bộ cửa sổ vào phòng khách căn nhà do phần này đã hoàn thành và cất bộ cửa sổ còn lại vào kho, nó sẽ được xem là hàng tồn kho. Trong trường hợp này cần áp dụng một hệ thống định giá kế toán nhất quán.   

Các công ty theo dõi chi phí hàng tồn kho bằng hai phương pháp chính là: nhập trước xuất trước (FIFO) hoặc nhập sau xuất trước (LIFO)

 - FIFO ấn định chi phí mua hàng tồn kho dựa trên những mặt hàng nào được mua hay được nhập trước tiên.

 - Ngược lại, LIFO xác định giá trị chi phí hàng tồn kho dựa trên hàng hóa cuối cùng được mua hay được thêm vào kho.  

(Theo Investopedia)

Lê Thảo

TS. Nguyễn Tú Anh: 'Áp lực lạm phát giảm là cơ hội tốt để nới room tín dụng'
Theo TS. Nguyễn Tú Anh, khi nền kinh tế đang có đà phát triển khá tốt thì cần tận dụng cơ hội để đưa tiền ra đặc biệt là trong bối cảnh lạm phát đang giảm dần.