Hàng hóa

Xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Australia đạt hơn 1,2 tỉ USD

09:17 | 21/03/2020

Chia sẻ

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam, trong hai tháng đầu năm 2020, kim ngạch hai chiều giữa Việt Nam và Australia đạt gần 1,3 tỉ USD, tăng 21% so với cùng kì năm ngoái.

Xuất khẩu đa số loại hàng hóa Việt Nam sang Australia tăng

Nếu không tính dầu thô, kim ngạch hai chiều giữa Việt Nam và Australia đạt hơn 1,2 tỉ USD, tăng 17% so với hai tháng đầu năm 2019.

Trong đó xuất khẩu của Việt Nam sang Australia đạt gần 500 triệu USD, tăng 7%; kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Australia đạt hơn 735 triệu USD, tăng 24% so với cùng kì năm trước.

Nhóm hàng điện thoại và linh kiện luôn dẫn đầu về kim ngạch trong số các nhóm hàng xuất khẩu sang Australia khi đạt 125,72 triệu USD, tăng 26% so với cùng kì năm 2019. 

Nhóm hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đứng thứ hai về kim ngạch, giảm 7% so với cùng kì, đạt 53,45 triệu USD. 

Tiếp đến nhóm hàng giày dép đứng vị trí thứ ba với mức tăng 3%, đạt 39,5 triệu USD.

Nhóm hàng dệt may đạt 39,05 triệu USD, tăng 1%.

Nhìn chung, trong hai tháng đầu năm nay kim ngạch xuất khẩu đa số loại hàng hóa sang Australia tăng so với cùng kì năm ngoái. 

Trong đó, xuất khẩu nhóm hàng clynker và xi măng tăng mạnh nhất 87%, đạt 2,6 triệu USD. Bên cạnh đó, kim ngạch xuất khẩu cà phê cũng tăng cao 78%, đạt 7,7 triệu USD.

Việt Nam và Australia là đối tác thương mại thông qua Hiệp định Tự do thương mại (FTA) ASEAN – Australia – New Zealand (AANZFTA) có hiệu lực từ năm 2010 và Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) có hiệu lực từ cuối năm 2018.

Nhờ các hiệp định này, phần lớn hàng hóa của Việt Nam xuất khẩu sang Australia sẽ được hưởng mức thuế suất ưu đãi 0% và nhiều điều kiện thuận lợi khác. 

Tuy nhiên, năng lực và giá trị xuất khẩu và đầu tư của Việt Nam sang Australia hiện còn rất khiêm tốn, xuất khẩu nông sản tươi của Việt Nam vào Australia mới chỉ chiếm vị trí nhỏ trong tổng qui mô thị trường của Australia.

Xuất khẩu của Việt Nam sang Australia (không kể dầu thô)

Đơn vị tính: USD

Mặt hàng

2T/2019

2T/2020

Tăng/Giảm (%)

Kim ngạch XK

466.143.024

499.518.945

7%

Điện thoại các loại và linh kiện

99.524.488

125.722.855

26%

Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện

57.753.394

53.447.893

-7%

Giày dép các loại

38.354.392

39.498.680

3%

Hàng dệt, may

38.485.887

39.051.034

1%

Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác

36.242.457

37.994.462

5%

Hàng thủy sản

26.530.737

28.378.680

7%

Gỗ và sản phẩm gỗ

22.196.900

19.257.184

-13%

Sản phẩm từ sắt thép

19.041.023

17.869.068

-6%

Hạt điều

16.479.462

11.655.739

-29%

Hàng rau quả

6.410.867

9.114.011

42%

Sản phẩm từ chất dẻo

7.951.934

8.847.560

11%

Cà phê

4.321.454

7.688.234

78%

Phương tiện vận tải và phụ tùng

5.169.464

7.360.887

42%

Túi xách, ví,vali, mũ, ô, dù

4.973.856

6.498.773

31%

Kim loại thường khác và sản phẩm

4.706.550

5.982.220

27%

Đồ chơi, dụng cụ thể thao và bộ phận

5.443.887

5.708.636

5%

Giấy và các sản phẩm từ giấy

5.832.600

5.690.478

-2%

Sản phẩm hóa chất

3.555.489

5.184.346

46%

Sản phẩm nội thất từ chất liệu khác gỗ

4.883.712

3.999.509

-18%

Bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc

2.706.504

3.842.475

42%

Sắt thép các loại

8.818.771

3.496.752

-60%

Sản phẩm mây, tre, cói và thảm

2.564.648

3.474.488

35%

Clynker và xi măng

1.393.990

2.609.602

87%

Đá quý, kim loại quý và sản phẩm

2.666.498

2.424.347

-9%

Sản phẩm gốm, sứ

1.740.408

2.240.269

29%

Nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày

1.296.505

1.828.810

41%

Gạo

1.345.840

1.612.275

20%

Sản phẩm từ cao su

1.303.460

1.275.009

-2%

Chất dẻo nguyên liệu

871.275

1.107.289

27%

Dây điện và dây cáp điện

1.677.024

1.060.351

-37%

Hạt tiêu

1.376.720

929.339

-32%

Máy ảnh, máy quay phim và linh kiện

449.442

574.938

28%

Hàng hóa khác

30.073.387

34.092.754

13%

Xuất khẩu gỗ Việt Nam sang Australia tăng vọt

Về nhập khẩu, một số nhóm hàng có kim ngạch nhập khẩu trong hai tháng đầu năm nay đạt hơn 50 triệu USD như than các loại 238 triệu USD, tăng 26% so với cùng kì năm ngoái; quặng và khoáng sản khác đạt 101,1 triệu USD, tăng 44%; kim loại thường khác đạt 80,83 triệu USD, tăng 39%; lúa mì đạt 62,8 triệu USD, tăng 64%.

Gỗ và sản phẩm gỗ là nhóm hàng tuy có tỉ trọng còn thấp đạt 6,98 triệu USD nhưng lại có mức tăng mạnh 731% so với cùng kì. 

Ở chiều ngược lại, Australia giảm xuất khẩu một số nhóm hàng sang Việt Nam trong hai tháng đầu năm 2020 như bông các loại giảm 80% về trị giá, đạt 4,5 triệu USD; thức ăn gia súc và nguyên liệu giảm 57% về trị giá đạt 2,61 triệu USD.

Nhập khẩu của Việt Nam từ Australia

Đơn vị tính: USD

Mặt hàng

2T/2019

2T/2020

Tăng/Giảm (%)

Kim ngạch NK

592.454.330

735.072.810

24%

Than các loại

205.766.259

238.002.636

16%

Quặng và khoáng sản khác

70.095.953

101.070.280

44%

Kim loại thường khác

58.028.267

80.827.764

39%

Lúa mì

38.336.044

62.758.895

64%

Hàng rau quả

18.218.169

14.855.276

-18%

Phế liệu sắt thép

21.538.936

10.851.702

-50%

Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác

4.674.451

8.098.745

73%

Sữa và sản phẩm sữa

11.655.709

8.096.481

-31%

Gỗ và sản phẩm gỗ

839.853

6.977.578

731%

Sản phẩm hóa chất

5.769.900

5.845.065

1%

Bông các loại

22.685.731

4.456.910

-80%

Dược phẩm

6.763.542

4.282.545

-37%

Sắt thép các loại

6.209.202

4.200.587

-32%

Chất dẻo nguyên liệu

3.036.348

2.717.316

-11%

Nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày

2.171.112

2.613.674

20%

Thức ăn gia súc và nguyên liệu

6.118.162

2.611.015

-57%

Đá quý, kim loại quý và sản phẩm

2.296.053

1.888.872

-18%

Chế phẩm thực phẩm khác

2.254.541

1.718.928

-24%

Sản phẩm khác từ dầu mỏ

953.805

1.586.746

66%

Sản phẩm từ sắt thép

1.145.149

782.200

-32%

Dầu mỡ động thực vật

621.685

712.355

15%

Hóa chất

250.326

262.043

5%

Hàng hóa khác

103.025.136

169.855.198

65%

(Nguồn: Thương vụ Việt Nam tại Australia)

Phùng Nguyệt