Bảng giá vàng hôm nay 5/4: Vàng SJC và nhẫn trơn tăng tới 1,2 triệu đồng/lượng trong tuần qua
Giá vàng miếng SJC tiếp tục nối dài đà tăng
|
Vàng miếng SJC |
Khu vực |
Phiên ngày 4/4 |
Phiên ngày 30/3 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
171,50 |
174,50 |
170,80 |
173,80 |
+700 |
+700 |
|
Hệ thống Doji |
Hà Nội |
171,00 |
174,50 |
170,80 |
173,80 |
+200 |
+700 |
|
TP HCM |
171,00 |
174,50 |
170,80 |
173,80 |
+200 |
+700 |
|
|
Tập đoàn Phú Quý |
Hà Nội |
171,00 |
174,50 |
170,80 |
173,80 |
+200 |
+700 |
|
Cửa hàng vàng bạc đá quý Phú Nhuận |
TP HCM |
171,00 |
174,50 |
170,80 |
173,80 |
+200 |
+700 |
|
Hà Nội |
171,00 |
174,50 |
170,80 |
173,80 |
+200 |
+700 |
|
|
Bảo Tín Minh Châu |
Toàn quốc |
171,00 |
174,50 |
170,70 |
173,80 |
+300 |
+700 |
|
Mi Hồng |
TP HCM |
172,50 |
174,50 |
171,30 |
173,80 |
+1.200 |
+700 |
Vàng miếng tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát trong tuần qua. (Tổng hợp: Du Y)
Khép lại tuần giao dịch từ ngày 30/3 đến 4/4, giá vàng miếng SJC tiếp tục duy trì xu hướng tăng tại hầu hết các doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn trên thị trường.
Khảo sát tại Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC) cho thấy, giá vàng miếng SJC được điều chỉnh tăng 700.000 đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào và bán ra so với đầu tuần.
Tại Tập đoàn Doji, Phú Quý và hệ thống PNJ, giá vàng miếng SJC cùng tăng 200.000 đồng/lượng ở chiều mua vào và tăng 700.000 đồng/lượng ở chiều bán ra.
Trong khi đó, hệ thống Bảo Tín Minh Châu cũng điều chỉnh tăng giá vàng miếng với mức tăng 300.000 đồng/lượng ở chiều mua vào và 700.000 đồng/lượng ở chiều bán ra.
Đáng chú ý, tại hệ thống Mi Hồng, giá vàng miếng SJC ghi nhận mức tăng mạnh nhất trong tuần, với 1,2 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào và 700.000 đồng/lượng ở chiều bán ra.
Diễn biến này cho thấy phân khúc vàng miếng tiếp tục giữ được sức nóng sau nhịp tăng mạnh từ tuần trước, bất chấp thị trường vẫn có những đợt điều chỉnh cục bộ giữa các phiên giao dịch.
Giá vàng nhẫn tròn trơn tăng mạnh tại nhiều thương hiệu
|
Vàng nhẫn tròn trơn |
Phiên ngày 4/4 |
Phiên ngày 30/3 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
|
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
|||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
171,30 |
174,30 |
170,60 |
173,60 |
+700 |
+700 |
|
Tập đoàn Doji |
171,00 |
174,50 |
170,80 |
173,80 |
+200 |
+700 |
|
Tập đoàn Phú Quý |
171,00 |
174,00 |
170,80 |
173,80 |
+200 |
+200 |
|
Vàng bạc đá quý Phú Nhuận |
169,40 |
172,90 |
170,80 |
173,80 |
-1.400 |
-900 |
|
Bảo Tín Minh Châu |
169,50 |
172,50 |
170,30 |
173,30 |
-800 |
-800 |
|
Mi Hồng |
172,50 |
174,50 |
171,30 |
173,80 |
+1.200 |
+700 |
Vàng nhẫn trơn tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát trong tuần qua. (Tổng hợp: Du Y)
Không nằm ngoài xu hướng đi lên của vàng miếng, giá vàng nhẫn tròn trơn trong tuần qua cũng ghi nhận nhiều biến động tích cực tại một số doanh nghiệp lớn.
Cụ thể, tại Công ty SJC, giá vàng nhẫn tròn trơn tăng 700.000 đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra.
Tại Tập đoàn Doji, giá vàng nhẫn được điều chỉnh tăng 200.000 đồng/lượng ở chiều mua vào và tăng 700.000 đồng/lượng ở chiều bán ra.
Cùng xu hướng, Tập đoàn Phú Quý cũng nâng giá vàng nhẫn thêm 200.000 đồng/lượng ở cả hai chiều giao dịch.
Đáng chú ý, hệ thống Mi Hồng tiếp tục là đơn vị có mức điều chỉnh mạnh ở phân khúc này, khi giá vàng nhẫn tăng tới 1,2 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào và tăng 700.000 đồng/lượng ở chiều bán ra.
Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng đi theo xu hướng tăng. Tại PNJ, giá vàng nhẫn tròn trơn được điều chỉnh giảm 1,4 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào và giảm 900.000 đồng/lượng ở chiều bán ra.
Tương tự, hệ thống Bảo Tín Minh Châu cũng hạ giá vàng nhẫn 800.000 đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào và bán ra.
Nhìn chung, dù vẫn có sự phân hóa giữa các thương hiệu, vàng nhẫn tròn trơn trong tuần qua vẫn cho thấy xu hướng tăng là chủ đạo, đặc biệt ở nhóm doanh nghiệp có mức điều chỉnh sát với diễn biến thị trường.
Ảnh minh hoạ: Du Y.
Giá vàng nữ trang 24K biến động trái chiều
|
Vàng nữ trang 24K |
Khu vực |
Phiên ngày 4/4 |
Phiên ngày 30/3 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
169,30 |
172,80 |
168,60 |
172,10 |
+700 |
+700 |
|
Tập đoàn Doji |
Hà Nội |
165,50 |
169,50 |
169,40 |
173,40 |
-3.900 |
-3.900 |
|
TP HCM |
165,50 |
169,50 |
169,40 |
173,40 |
-3.900 |
-3.900 |
|
|
Tập đoàn Phú Quý |
Hà Nội |
169,50 |
173,50 |
168,50 |
172,50 |
+1.000 |
+1.000 |
|
Hệ thống PNJ |
TP HCM |
167,60 |
171,60 |
168,20 |
172,20 |
-600 |
-600 |
|
Bảo Tín Minh Châu |
Toàn quốc |
167,50 |
171,50 |
168,30 |
172,30 |
-800 |
-800 |
Vàng 24K tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát trong tuần qua. (Tổng hợp: Du Y)
Trái ngược với sự đồng thuận tăng giá của vàng miếng và vàng nhẫn, giá vàng nữ trang 24K trong tuần qua lại ghi nhận diễn biến trái chiều giữa các hệ thống kinh doanh lớn.
Trong đó, tại Công ty SJC, giá vàng nữ trang 24K được điều chỉnh tăng 700.000 đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra.
Tại Tập đoàn Phú Quý, mức điều chỉnh còn mạnh hơn khi giá vàng nữ trang 24K tăng tới 1 triệu đồng/lượng cho cả hai chiều giao dịch.
Ở chiều ngược lại, Tập đoàn Doji gây chú ý khi giảm mạnh tới 3,9 triệu đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra — mức điều chỉnh sâu nhất trong nhóm doanh nghiệp khảo sát tuần này.
Trong khi đó, hệ thống PNJ điều chỉnh giảm 600.000 đồng/lượng ở cả hai chiều giao dịch.
Tương tự, Bảo Tín Minh Châu cũng hạ giá vàng nữ trang 24K thêm 800.000 đồng/lượng ở mỗi chiều mua vào và bán ra.
Diễn biến phân hóa ở nhóm vàng nữ trang 24K cho thấy thị trường không chỉ chịu tác động từ xu hướng giá vàng chung, mà còn phụ thuộc vào chính sách niêm yết và biên độ điều chỉnh riêng của từng doanh nghiệp.
Giá vàng nữ trang 18K diễn biến không đồng nhất
|
Vàng nữ trang 18K |
Khu vực |
Phiên ngày 4/4 |
Phiên ngày 30/3 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
120,86 |
129,76 |
120,34 |
129,24 |
+530 |
+530 |
|
Hệ thống PNJ |
TP HCM |
119,80 |
128,70 |
120,25 |
129,15 |
-450 |
-450 |
|
Mi Hồng |
TP HCM |
110,50 |
114,50 |
110,00 |
115,00 |
+500 |
-500 |
Vàng 18K tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát trong tuần qua. (Tổng hợp: Du Y)
Ở phân khúc vàng nữ trang 18K, thị trường cũng ghi nhận xu hướng biến động trái chiều, tương tự nhóm vàng 24K.
Theo đó, tại Công ty SJC, giá vàng 18K tăng 530.000 đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra so với đầu tuần.
Ngược lại, hệ thống PNJ điều chỉnh giảm 450.000 đồng/lượng cho cả hai chiều giao dịch.
Trong khi đó, tại Mi Hồng, giá vàng 18K ghi nhận diễn biến khá đặc biệt khi tăng 500.000 đồng/lượng ở chiều mua vào nhưng lại giảm 500.000 đồng/lượng ở chiều bán ra.
Diễn biến này cho thấy phân khúc vàng nữ trang 18K đang có sự điều chỉnh linh hoạt hơn so với vàng miếng và vàng nhẫn, phản ánh rõ sự chênh lệch trong chiến lược giá của từng đơn vị kinh doanh.
Tính chung trong tuần qua, vàng miếng SJC và vàng nhẫn tiếp tục là hai phân khúc giữ đà tăng rõ nét, trong khi vàng nữ trang ghi nhận biến động trái chiều. Xu hướng này phản ánh diễn biến phân hóa ngày càng rõ trên thị trường vàng trong nước.
