|
 Thuật ngữ VietnamBiz
Quốc tế

Vì sao kinh tế Thái Lan vẫn mắc kẹt trong bẫy thu nhập trung bình?

07:55 | 30/10/2022
Chia sẻ
Từng là một trong những nền kinh tế năng động nhất thế giới nhưng Thái Lan lại đang chật vật với gánh nặng dân số già hoá, hệ thống giáo dục đi xuống và lối canh tác năng suất thấp.

Quang cảnh thủ đô Bangkok, Thái Lan. (Ảnh: AFP/TTXVN).

Theo trang ThailandBusinessNews, nền kinh tế lớn thứ hai khu vực Đông Nam Á và từng một thời là một trong những nền kinh tế năng động nhất thế giới Thái Lan đang chật vật dưới gánh nặng của dân số già hoá, hệ thống giáo dục đi xuống và lối canh tác năng suất thấp.

Dường như Thái Lan đang mắc kẹt trong cái bẫy quốc gia thu nhập trung bình, không thể giàu có, tiến thoái lưỡng nan giữa một Việt Nam trẻ hơn và năng động hơn và một Indonesia rộng lớn hơn.

Để thoát khỏi cái bẫy này không dễ dàng, nhưng đầu tư vào giáo dục và nguồn nhân lực chất lượng cao hơn cũng như cải cách quản lý và nông nghiệp nên là các ưu tiên lúc này.

Tỷ lệ sinh thấp nhất Đông Nam Á

Thái Lan có tỷ lệ sinh thấp nhất Đông Nam Á, ngang với Singapore. Nhân khẩu học của nước này được cho là đáng lo ngại hơn so với Hàn Quốc, quốc gia có tỷ lệ sinh gần 0,8. Từ năm 2000 đến năm 2021, dân số từ 20-24 tuổi của Hàn Quốc đã giảm 15%. Ở Thái Lan, con số này giảm 20%, chỉ thấp hơn chút ít so với mức giảm 27% ở Nhật Bản.

Nhưng Nhật Bản và Hàn Quốc tạo ra GDP bình quân đầu người gấp 4 lần Thái Lan, và họ có nhiều nguồn lực hơn để hỗ trợ các công dân già và thu hút những người nhập cư có tay nghề cao để củng cố lực lượng lao động đang già đi. COVID-19 làm trầm trọng thêm tình trạng già hoá

Cũng như ở nhiều quốc gia khác, COVID-19 làm trầm trọng thêm tình trạng già hóa của Thái Lan. Từ năm 2020 đến năm 2021, số trẻ sơ sinh Thái Lan đã giảm 8%. Căng thẳng bởi nợ ngày càng tăng, lạm phát và triển vọng việc làm kém, các hộ gia đình trung lưu và lao động hầu như không mong muốn có thêm con.

Trong thời kỳ đại dịch, nợ hộ gia đình Thái Lan đã tăng lên 90% GDP. Trong những năm 2000, Thái Lan vượt trội so với các nước trong khu vực về nhiều chỉ số giáo dục.

Gần như tất cả trẻ em trong độ tuổi đi học đều học tiểu học và tỷ lệ thiếu niên vào trung học cơ sở chiếm tỷ lệ cao. Hầu hết công nhân Thái Lan vào năm 2006 đều đã học hết tiểu học. Đến năm 2019, hầu hết đều có giáo dục sau tiểu học.

Những thành tựu về giáo dục và kỹ năng này có thể giúp cải thiện các tác động của quá trình lão hóa nhanh chóng. Nhưng yếu tố quan trọng đối với việc hình thành vốn con người và thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình là sự tiếp thu và chất lượng của giáo dục đại học.

Trong thập kỷ qua, sự sụt giảm trong số người đăng ký đại học đã bắt đầu tăng nhanh hơn sự sụt giảm nhân khẩu học về số lượng người trẻ tuổi.

Tổng tỷ lệ nhập học đại học của Thái Lan - số lượng đăng ký học đại học so với nhóm tuổi chính ở cấp đại học - đạt đỉnh khoảng 50% vào đầu những năm 2010 và sau đó giảm xuống còn 40–45% trong những năm gần đây.

Các chương trình kỹ thuật hoặc định hướng nghề nghiệp có kết quả tốt hơn, nhưng hầu hết các chương trình đại học phổ thông đều mất nhiều sinh viên. Trong khoảng thời gian từ 2015 đến 2019, số sinh viên đăng ký trình độ đại học đã giảm mạnh 18%.

Các vấn đề của các trường đại học Thái Lan liên quan đến chất lượng, việc làm và tài chính hộ gia đình. Với số lượng tuyển sinh ít hơn, các trường đại học có ít nguồn lực và động lực hơn để đầu tư vào việc nâng cao chất lượng theo cách mà các trường đại học Trung Quốc hoặc Singapore đã làm.

Đổi lại, triển vọng việc làm của sinh viên tốt nghiệp đã yếu đi. Mức lương cao của giáo dục đại học Thái Lan đã giảm kể từ đầu những năm 2010, với nhiều sinh viên tốt nghiệp thiếu những kỹ năng cần thiết cho lực lượng lao động.

Trong thời kỳ đại dịch, số lao động có trình độ đại học thất nghiệp đã tăng hơn gấp đôi. Đối với các hộ gia đình nợ nần chồng chất, vài năm cho cho giáo dục đại học có vẻ không còn đáng giá nữa. Nhiều trường đại học Thái Lan đang phải đối mặt với việc loại bỏ các chương trình hoặc đóng cửa hoàn toàn.

Nông nghiệp vẫn là trụ cột của kinh tế Thái Lan 

Trong khi đó, việc nông nghiệp vẫn là trụ cột chính của nền kinh tế Thái Lan lại là một nỗi lo khác. Ngành này đóng góp khoảng 1/10 GDP của Thái Lan nhưng sử dụng khoảng 1/3 lực lượng lao động.

Dù lĩnh vực này gần đây đã đa dạng hóa sang trái cây và chăn nuôi, nhưng lúa gạo vẫn là cây trồng chủ lực - các trang trại của Thái Lan chiếm 14% thương mại gạo quốc tế. Tuy nhiên, các trang trại trồng lúa của Thái Lan không có năng suất hoặc hiệu quả cao.

Năng suất trung bình của Thái Lan hiện thấp hơn so với Việt Nam, Campuchia và Lào. Trang trại trồng lúa trung bình của Thái Lan quá nhỏ và nông dân quá nghèo hoặc già để đầu tư vào thiết bị hoặc cơ sở hạ tầng để cải thiện năng suất.

Những thách thức này đã thúc đẩy các nhà hoạch định chính sách chuyển sang dựa vào công nghệ công nghiệp mới để phục hồi tăng trưởng kinh tế.

Ví dụ, các nhà lãnh đạo chính trị mơ ước chuyển sang sản xuất xe điện và vào tháng 5/2022, Thủ tướng Prayut Chan-o-cha bày tỏ hy vọng rằng Thái Lan sẽ trở thành trung tâm sản xuất xe điện lớn nhất thế giới.

Nhưng một chiến lược quốc gia thuần túy tập trung vào xe điện sẽ là một canh bạc tốn kém, trong một khu vực mà ít người tiêu dùng có sẵn hầu bao để sở hữu vật dụng công nghệ này ngay từ đầu.

Đầu tư nước ngoài là động lực thương mại 

Thái Lan và ngành công nghiệp ô tô nói riêng được hưởng lợi từ các khoản đầu tư lớn từ Nhật Bản và Trung Quốc.

Xuất khẩu của Thái Lan khả quan từ năm 2020, với doanh số bán xe tăng sang Nhật Bản và xuất khẩu nông sản sang Trung Quốc. Thương mại do đầu tư nước ngoài là động lực đã thúc đẩy kinh tế mạnh mẽ và mở ra cơ hội thay đổi cơ cấu.

Tuy nhiên, đầu tư nước ngoài không được khuyến khích bởi môi trường chính trị và luật pháp không chắc chắn, nạn tham nhũng, các tổ chức độc tài quyền lực trong nước và các hạn chế về sở hữu nước ngoài.

Hành lang kinh tế phía Đông và các đặc khu kinh tế được thành lập dưới thời các chính phủ gần đây vẫn chưa mở rộng hoặc tăng cường đầu tư vào Thái Lan. Trẻ hóa giáo dục đại học đòi hỏi phải cải cách tài chính giáo dục đại học, củng cố và quốc tế hóa các trường đại học của nó.

Để giảm bớt tình trạng trì trệ trong nông nghiệp đòi hỏi sự xoay trục từ hỗ trợ giá nông nghiệp sang cơ giới hóa, đầu tư vào thủy lợi và hợp nhất hóa trang trại.

Những thách thức về nhân khẩu học, giáo dục và nông nghiệp của Thái Lan dường như là dấu hiệu của một nền kinh tế bất bình đẳng với sự tập trung nguồn lực và quyền lực xung quanh các tập đoàn lớn và những người giàu có.

Cơ cấu kinh tế như vậy hạn chế nhu cầu của tầng lớp trung lưu và làm tăng dòng vốn chảy ra các nước lân cận như Việt Nam, ngay cả khi Thái Lan có quá ít đầu tư tư nhân trong nước. Tương tự như vậy, có quá ít khuyến khích cho sinh viên hoặc nông dân để nâng cấp năng lực và ít hỗ trợ cho các gia đình để họ sẵn sàng có con.

Thay đổi hướng đi cốt lõi là một vấn đề quản trị và chính trị. Nhiều đề xuất về Thái Lan 4.0 - ví dụ, về đầu tư cân bằng trong khu vực và quan hệ đối tác chung để hướng nguồn lực vào giáo dục đại học - cho thấy không thiếu những ý tưởng hay từ các công chức và học giả Thái Lan về những gì cần thiết. Nhưng thực hiện chúng là một câu hỏi khác.

Đỗ Sinh (P/V TTXVN Tại Bangkok)