Mỹ vẫn có đủ công cụ để áp thuế cao hơn mức đối ứng, doanh nghiệp Việt phải làm gì?
Kể từ ngày 24/2 theo giờ Washington (tức 12h01 trưa cùng ngày theo giờ Việt Nam), mức thuế quan mới 10% của Mỹ đã chính thức có hiệu lực. Biện pháp này được ban hành theo Mục 122 của Đạo luật Thương mại 1974, có hiệu lực tối đa 150 ngày nếu không được Quốc hội gia hạn. Vì áp dụng theo diện toàn cầu, hàng Việt Nam nhập khẩu vào Mỹ cũng chịu mức thuế tối thiểu 10% như các nước khác.
Trao đổi với chúng tôi, ông Ngô Sỹ Hoài, Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, việc áp thuế đồng loạt theo diện toàn cầu đã giúp giảm đáng kể gánh nặng tương đối đối với các quốc gia xuất khẩu nhiều vào thị trường Mỹ, trong đó có Việt Nam.
Trong ngắn hạn, tín hiệu tích cực lớn nhất là sự phục hồi niềm tin thị trường. Các nhà nhập khẩu Mỹ sẽ bớt lo ngại về nguy cơ thuế bị áp đặt đột ngột, qua đó tạo điều kiện để hai bên nối lại đàm phán, ký kết và triển khai đơn hàng, đặc biệt trong bối cảnh nhiều doanh nghiệp vẫn đang “án binh bất động” chờ định hướng chính sách rõ ràng.
Về trung hạn, động thái này cũng tạo ra một tiền lệ quan trọng: nếu muốn áp thuế bổ sung, Chính phủ Mỹ sẽ phải đi theo các quy trình điều tra thương mại truyền thống, có tham vấn đầy đủ và bằng chứng thuyết phục hơn. Điều này giúp nâng cao tính minh bạch và khả năng dự báo cho doanh nghiệp.
Ông Ngô Sỹ Hoài, Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam. (Ảnh: Nguyễn Ngọc)
Chỉ là một 'khoảng lặng chính sách'
Theo ông Hoài, phán quyết của Tòa án Tối cao Mỹ chỉ là một “khoảng lặng chính sách” bởi Chính quyền Mỹ vẫn còn nhiều công cụ hợp pháp khác để gia tăng thuế nhập khẩu, thậm chí ở mức cao hơn thuế đối ứng trước đây, nếu xét thấy cần thiết vì mục tiêu kinh tế hoặc chính trị thương mại.
Cụ thể, mục 122 của Đạo luật Thương mại 1974 cho phép Tổng thống áp dụng biện pháp hạn chế nhập khẩu tạm thời (thuế bổ sung hoặc hạn ngạch) tối đa 150 ngày nhằm xử lý tình trạng thâm hụt cán cân thanh toán nghiêm trọng.
Mục 301 của cùng Đạo luật cho phép Đại diện Thương mại Mỹ điều tra và áp dụng biện pháp đáp trả đối với các hành vi bị coi là không công bằng trong thương mại quốc tế và Mục 232 của Đạo luật Thương mại Mở rộng 1962 áp thuế hoặc hạn chế nhập khẩu vì lý do an ninh quốc gia. Cùng với đó là các công cụ phòng vệ thương mại truyền thống theo luật Mỹ, bao gồm điều tra chống bán phá giá, chống trợ cấp và chống lẩn tránh thuế.
"Rủi ro thực chất không hề suy giảm mà chỉ chuyển từ hình thức này sang hình thức khác", ông Hoài nêu rõ.
Nếu điều này xảy ra, theo ông Hoài, các doanh nghiệp xuất khẩu Việt sẽ đối mặt với áp lực giảm giá và thu hẹp biên lợi nhuận. Trên thực tế, các nhà nhập khẩu Mỹ thường yêu cầu phía xuất khẩu chia sẻ gánh nặng thuế, buộc doanh nghiệp trong nước phải điều chỉnh giá bán, chấp nhận lợi nhuận thấp, thậm chí hòa vốn để giữ khách hàng.
Bên cạnh đó là yếu tố tâm lý thị trường. Thời hạn 150 ngày của các biện pháp thuế tạm thời khiến nhiều nhà mua hàng trì hoãn quyết định, chia nhỏ đơn hàng hoặc chờ đợi diễn biến chính sách tiếp theo, làm gia tăng sự bất ổn trong kế hoạch sản xuất và dòng tiền của doanh nghiệp. Đáng lo ngại hơn là nguy cơ gia tăng các biện pháp phòng vệ thương mại.
“Khi chính quyền của Donald Trump coi thuế nhập khẩu là công cụ trọng yếu để giảm thâm hụt thương mại và thúc đẩy chương trình “Làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại”, những ngành có kim ngạch xuất khẩu lớn vào Mỹ như gỗ có thể đối mặt với các cuộc điều tra chống bán phá giá, chống trợ cấp hoặc chống lẩn tránh thuế với tần suất và mức độ cao hơn”, ông Hoài nhìn nhận.
Đồng tình với lo ngại này, theo TS. Nguyễn Sơn, giảng viên ngành Quản lý chuỗi cung ứng và logistics, Đại học RMIT, chính quyền Trump đã tuyên bố sẽ mở rộng điều tra theo Mục 301 và 232 để tái lập cấu trúc thuế quan dài hạn thay thế Đạo luật Quyền lực Kinh tế Khẩn cấp Quốc tế (IEEPA) - là cơ sở pháp lý mà chính quyền Donald Trump từng sử dụng để áp thuế đối ứng với các quốc gia có thặng dư thương mại lớn với Mỹ.
Về mặt kỹ thuật, thuế quan do nhà nhập khẩu Mỹ nộp tại cửa khẩu, không phải doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam. Nhưng theo thực tế thị trường, gánh nặng chi phí dần dịch chuyển: đến giữa năm 2026, nhà xuất khẩu nước ngoài sẽ gánh khoảng 25% chi phí thuế do nhà nhập khẩu Mỹ ép giảm giá bán khi có thêm thời gian tìm kiếm nhà cung cấp thay thế.
"Điều này có nghĩa là áp lực thực sự lên doanh nghiệp Việt Nam sẽ tăng lên theo thời gian, không giảm đi ngay cả khi thuế danh nghĩa đứng ở 15%", ông Sơn quan ngại.
Không gian đàm phán mới được mở ra
Theo TS. Sơn, trong bối cảnh các thủ tục hoàn thuế theo IEEPA còn đang chờ xử lý, một không gian đàm phán mới cũng được mở ra. Các nhà nhập khẩu Mỹ cần sự ổn định nguồn cung và có thể sẵn sàng chia sẻ rủi ro hơn trong giai đoạn chuyển tiếp.
Vì vậy, doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam nên chủ động đàm phán các điều khoản chia sẻ chi phí khi thuế thay đổi vượt ngưỡng định sẵn, đồng thời lựa chọn các điều khoản thương mại quốc tế phù hợp để không đặt toàn bộ rủi ro thuế quan về phía mình.
Đồng thời, các hiệp hội ngành có liên quan cần phối hợp với Bộ Công Thương để chuẩn bị hồ sơ chứng minh giá trị gia tăng nội địa, tuân thủ quy tắc xuất xứ, và không phải kênh chuyển tải hàng Trung Quốc chuẩn bị cho quá trình điều tra.
“Điều này có nghĩa là nên đầu tư vào hệ thống truy xuất nguồn gốc chuỗi cung ứng là bắt buộc để giảm thiểu rủi ro bị áp mức thuế 40%, một điều khoản không bị ảnh hưởng bởi phán quyết Tòa Tối cao và vẫn là rủi ro pháp lý với hàng Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ”, ông Sơn nêu rõ.
TS. Nguyễn Sơn, giảng viên ngành Quản lý chuỗi cung ứng và logistics, Đại học RMIT. (Nguồn: NVCC)
Còn theo ông Hoài, doanh nghiệp cần tận dụng thời gian này để đẩy nhanh ký kết, giao hàng các đơn hàng đang đàm phán, rà soát hồ sơ xuất xứ, truy xuất nguồn gốc, và chuẩn hóa hệ thống kế toán, chi phí để sẵn sàng ứng phó nếu có điều tra thương mại trong tương lai.
Về dài hạn, doanh nghiệp cần thay đổi theo hướng chiến lược, bài bản và quyết liệt hơn. Trước hết là đa dạng hóa thị trường, giảm phụ thuộc vào Mỹ (thị trường hiện chiếm trên 50% kim ngạch xuất khẩu gỗ của Việt Nam).
Đồng thời làm mới cách tiếp cận các thị trường truyền thống như Liên minh châu Âu (EU), Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và mở rộng sang Trung Đông, Canada, Mexico, Nam Mỹ, Đông Nam Á, tận dụng hiệu quả các Hiệp định thương mại tự do (FTA) đã ký kết.
Cùng với đó là nâng cao năng lực tuân thủ về gỗ hợp pháp, kiểm soát chặt nguồn nguyên liệu và minh bạch truy xuất nguồn gốc để hạn chế rủi ro bị điều tra hoặc cáo buộc lẩn tránh thuế. Doanh nghiệp cũng cần củng cố năng lực phòng vệ thương mại thông qua chuyển đổi số, cải thiện quản trị, chuẩn hóa dữ liệu kế toán và chủ động phối hợp với hiệp hội khi phát sinh vụ việc.
“Nhà nước cần tăng cường hệ thống cảnh báo sớm các vụ việc phòng vệ thương mại, có cơ chế hỗ trợ pháp lý và tài chính cho doanh nghiệp khi bị điều tra từ thị trường Mỹ. Đồng thời đẩy mạnh đối thoại, đàm phán song phương nhằm hướng tới khuôn khổ thuế quan ổn định hơn, cùng với các chính sách hỗ trợ tín dụng và chuyển đổi xanh để nâng cao sức cạnh tranh dài hạn”, ông Hoài nêu rõ.