Kinh doanh

Amazon khiến ngành bán lẻ lao đao, và COVID-19 đẩy họ xuống vực

18:38 | 16/05/2020

Chia sẻ

Đại dịch viêm phổi cấp COVID-19 đã khiến ngành tổn thất nặng nề khi người tiêu dùng chuyển sang mua hàng trực tuyến. Hơn 2 triệu nhân sự trong ngành bán lẻ đã mất việc trong tháng 4, do nhiều cửa hàng ngừng bán.

Tổn thất của ngành bán lẻ càng rõ rệt hơn khi chính phủ Mỹ công bố số liệu khiến giới phân tích nhìn ra một trong những tháng tệ nhất của ngành bán lẻ từ Đại chiến Thế giới lần thứ hai.

Gần 100.000 cửa hàng đóng cửa trong vòng 5 năm tới, hơn gấp 3 con số trong khủng hoảng tài chính, theo số liệu của UBS. Thương mại điện tử cũng sẽ đóng góp 25% doanh số bán lẻ tại Mỹ, từ mức 15% hiện tại. Giới phân tích dự báo làn sóng chuyển đổi sang thương mại điện tử đang tăng tốc, bào mòn thêm biên lợi nhuận và gây thêm xáo trộn của ngành bán lẻ tại Mỹ.

Chỉ trong tháng 5,  tập đoàn bán lẻ thời trang J.Crew Group, chuỗi bán lẻ hàng xa xỉ Neiman Marcus, và chuỗi trung tâm thương mại Stage Stores đã nộp đơn xin bảo hộ phá sản. Sau hai lần lỡn hẹn, chuỗi siêu thị J.C. Penney có thể nộp đơn xin phá sản trong vài ngày tới. 4 chuỗi bán lẻ ấy có tổng cộng 2.500 cửa hàng và gần 120.000 nhân viên, tính tới cuối năm ngoái.

"Nếu không gọi giai đoạn hiện nay là tận thế của ngành bán lẻ, tôi không thể tìm ra từ nào khác", Sarah Wyeth - nhà phân tích ngành nhà hàng - bán lẻ tại S&P Global Ratings, bình luận. Wyeth ước tính xác suất vỡ nợ của 19 hãng bán lẻ mà S&P theo dõi là 50%. Năm 2008, số nhà bán lẻ vỡ nợ chỉ là 5.

Các chuỗi cửa hàng thời trang và các trung tâm thương mại - vốn đã lao đao từ trước đại dịch - thể hiện tổn thất một cách rõ nét nhất. J.Crew lỗ 6 năm liên tục, trong khi J.C.Penney chưa có lãi suốt 9 năm.

Amazon khiến ngành bán lẻ lao đao, và COVID-19 đẩy họ xuống vực - Ảnh 1.

Giới phân tích dự báo làn sóng chuyển đổi sang thương mại điện tử đang tăng tốc, bào mòn thêm biên lợi nhuận và gây thêm xáo trộn của ngành bán lẻ tại Mỹ. Ảnh: freepik.com

Hồi tháng 5 năm ngoái, Brittany Croffie - một nhân viên văn phòng 25 tuổi tại Mỹ, đang mua váy, giày và kính mới để chuẩn bị cho các bữa tiệc mùa hè. Nhưng 4 tuần qua, cô chỉ mua một laptop mới và các sản phẩm chăm sóc da.

"Có lẽ sự thay đổi thói quen ấy sẽ theo tôi trong dài hạn. Tôi đã tiết kiệm rất nhiều tiền vì không mua thêm hàng thời trang. Đại dịch COVID-19 đã dạy tôi cách chi tiền cho những thứ thực sự đáng mua", cô thổ lộ.

Một ngày nào đó, trạng thái tiêu dùng bình thường sẽ quay trở lại, và nhiều người sẽ lại coi mua sắm là hoạt động giải trí, hoặc chỉ đơn giản là muốn thử đồ trước khi mua. Song một số chuỗi không đủ tiền mặt chờ đến ngày đó.

Hàng loạt hãng bán lẻ đã lung lay từ trước khi lệnh phong tỏa có hiệu lực. Gần 3/4 hãng bán lẻ mà S&P theo dõi có xếp hạng trái phiếu ở mức "rác" trước đại dịch, kể cả các tên tuổi như Abercrombie & Fitch hay Foot Locker. Hạng tín nhiệm của Macy’s cũng giảm hồi tháng 2.

Đà phát triển của Amazon và mua sắm trực tuyến đã bào mòn lợi nhuận các nhà bán lẻ. Trong nhóm 25 hãng bán lẻ lớn mà hãng tư vấn AlixPartners theo dõi, lợi nhuận trước thuế vã lãi suất năm ngoái đã giảm còn tương đương 7% doanh thu, thay vì mức 11% năm 2012. Trong khi đó, tỉ lệ của các hãng thương mại điện tử là 18%, tăng từ 10%.

UBS ước tính số cửa hàng bán lẻ Mỹ sẽ chỉ còn 782.000 trong 5 năm tới, từ 883.000 năm ngoái. Mức giảm ấy mạnh hơn nhiều so với khủng hoảng tài chính, khi chỉ hơn 28.000 cửa hàng phải đóng cửa.

Ông Patrik Frisk - giám đốc hãng trang phục thể thao Under Armour - dự đoán trong 2 năm tới, nhiều thương hiệu sẽ đối mặt với lựa chọn khó khăn hơn, khi việc mua sắm dần chuyển sang trực tuyến. 

"Dĩ nhiên sẽ vẫn còn các cửa hàng truyền thống và điểm bán lẻ, nghĩa là một bộ phận doanh nghiệp sẽ thắng và số còn lại sẽ thua trong mọi ngành, bao gồm bán lẻ Tôi cho rằng đây là tình hình chung của ngành bán lẻ", ông lập luận.

Amazon khiến ngành bán lẻ lao đao, và COVID-19 đẩy họ xuống vực - Ảnh 2.

Walmart là một trong số những tập đoàn bán lẻ hiếm hoi tăng thị phần trong giai đoạn COVID-19 lây lan. Ảnh: NPR

Jeff Gennette, tổng giám đốc của chuỗi bán lẻ Macy's, đồng tình với quan điểm của Frisk. "Các cửa hàng truyền thống sẽ vẫn có vai trò trong tương lai nên chúng không biến mất", ông nói.

Nhiều chuỗi bán lẻ lớn đang thu hút người mua trở lại sau khi các lệnh phong tỏa chấm dứt. Sau nhiều tuần ở nhà, mọi người đã xếp hàng để vào các cửa hàng của Apple hay các điểm bán sản phẩm xa xỉ ở Paris, dù họ phải trải qua thủ tục đo thân nhiệt.

"Người tiêu dùng đang rất hào hứng", Jide Zeitlin - giám đốc của Tapestry (công ty mẹ của Coach) nhận định. Đến cuối tuần này, Tapestry sẽ mở lại 300 địa điểm tại Bắc Mỹ, nhưng sẽ áp dụng nhiều biện pháp giãn cách xã hội, như chỉ cho phép đến người mua cửa hàng để lấy đồ. 

Ranh giới giữa mua sắm trực tuyến và tại cửa hàng đang mờ dần, theo Zeitlin. Do người dân thường tìm sản phẩm trên mạng trước khi đến tận nơi mua chúng, hoặc ngược lại. Vì thế, ông muốn các cửa hàng truyền thống phải đạt lợi nhuận cao hơn - một động thái có thể khiến số lượng cửa hàng giảm sau đại dịch.

Sonia Syngal tiếp quản chức tổng giám đốc chuỗi bán lẻ Gap giữa tháng 3. Bà tiết lộ tập đoàn sẽ giảm số cửa hàng với thương hiệu Gap. "Chúng tôi sẽ coi đây là cơ hội cấu trúc lại tập đoàn theo hướng mà chúng tôi muốn hướng đến trong 50 năm tới", bà thổ lộ. Năm ngoái, Gap có hơn 3.300 cửa hàng trên toàn cầu.

Ngược lại, thị phần của Amazon và Walmart tiếp tục tăng. Walmart bắt đầu tận dụng 2.400 trong số 4.700 cơ sở của họ tại Mỹ để thu gom và giao đơn hàng trực tuyến. Trong tương lai gần, Walmart cũng sẽ giao một số loại dược phẩm tới địa chỉ mà người mua yêu cầu.

Cửu Dương