Giá tiêu hôm nay 23/1: Bật tăng trở lại, dự báo tiếp tục leo cao
Cập nhật giá tiêu
Tại thị trường trong nước
Khảo sát cho thấy giá tiêu hôm nay tại các địa phương sản xuất trọng điểm tăng từ 500 – 1.000 đồng/kg so với ngày hôm qua, lên mức 148.000 – 149.000 đồng/kg.
Cụ thể, Bà Rịa – Vũng Tàu (TP.HCM) ghi nhận mức tăng mạnh nhất, tăng 1.000 đồng/kg lên 149.000 đồng/kg.
Giá tiêu tại Đắk Lắk và Đắk Nông (tỉnh Lâm Đồng) cũng phổ biến ở mức 149.000 đồng/kg, tăng 500 đồng/kg.
Tại Gia Lai và giá tiêu tăng 500 đồng/kg, giao dịch ở mức 148.500 đồng/kg. Tương tự, giá tiêu tại Đồng Nai tăng 500 đồng/kg, đạt 148.000 đồng/kg.
|
Thị trường (khu vực khảo sát) |
Giá thu mua ngày 23/1 (Đơn vị: VNĐ/kg) |
Thay đổi so với ngày hôm trước (Đơn vị: VNĐ/kg) |
|
Đắk Lắk |
149.000 |
+500 |
|
Gia Lai |
148.500 |
+500 |
|
Đắk Nông |
149.000 |
+500 |
|
Bà Rịa – Vũng Tàu |
149.000 |
+1.000 |
|
Bình Phước |
148.000 |
+500 |
|
Đồng Nai |
148.000 |
+500 |
Trên thị trường thế giới
Kết thúc phiên giao dịch gần nhất, theo dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá tiêu đen của Indonesia được niêm yết ở mức 6.662 USD/tấn, tăng 0,36% (3 USD/tấn) so với ngày hôm trước.
Tại các quốc gia khác, giá vẫn duy trì ổn định. Hiện tiêu đen Brazil ASTA 570 có giá 6.000 USD/tấn, trong khi giá tiêu đen Malaysia đạt 9.000 USD/tấn.
Tại Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu tiếp tục dao động trong khoảng 6.400 – 6.600 USD/tấn đối với loại 500 g/l và 550 g/l.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu đen thế giới |
|
|
Ngày 23/1 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu đen Lampung (Indonesia) |
6.662 |
+0,36 |
|
Tiêu đen Brazil ASTA 570 |
6.000 |
- |
|
Tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA |
9.000 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
6.400 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
6.600 |
- |
Cùng thời điểm khảo sát, giá tiêu trắng Muntok Indonesia tăng 0,36% (42 USD/tấn), lên 9.106 USD/tấn.
Trong khi đó, giá tiêu trắng tại Việt Nam và Malaysia duy trì ổn định ở mức 9.150 USD/tấn và 12.000 USD/tấn.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu trắng thế giới |
|
|
Ngày 23/1 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu trắng Muntok Indonesia |
9.106 |
+0,36 |
|
Tiêu trắng Malaysia ASTA |
12.000 |
- |
|
Tiêu trắng Việt Nam |
9.150 |
- |
Cập nhật thông tin hồ tiêu
Theo báo cáo mới nhất của Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), năm 2026, giá hạt tiêu nhiều khả năng duy trì ở mức cao và có xu hướng tăng, do nguồn cung toàn cầu suy giảm mạnh (dự báo giảm từ 15–20%), tồn kho thấp, trong khi nhu cầu thế giới tăng.
- TIN LIÊN QUAN
-
Giá tiêu hôm nay 22/1: Sản lượng liên tục giảm, giá tiêu thế giới sẽ duy trì ở mức cao? 22/01/2026 - 06:00
Tuy nhiên, trị giá xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam có thể tăng chậm hơn sản lượng, bởi doanh nghiệp chịu áp lực thiếu nguyên liệu và rào cản kỹ thuật ngày càng khắt khe từ các thị trường lớn.
Về trung và dài hạn, việc siết chặt quản lý thuốc bảo vệ thực vật, đẩy mạnh sản xuất bền vững, chế biến sâu và truy xuất nguồn gốc sẽ giúp nâng cao giá trị xuất khẩu, cải thiện khả năng tiếp cận thị trường cao cấp và củng cố vị thế hạt tiêu Việt Nam, dù quá trình chuyển đổi có thể làm chi phí và sàng lọc doanh nghiệp tăng trong ngắn hạn.
Số liệu thống kê từ Cục Hải quan cho thấy, xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam trong tháng 12/2025 đạt 22,01 nghìn tấn, trị giá 145,02 triệu USD, tăng 22,2% về lượng và tăng 22,3% về trị giá so với tháng 11/2025, tăng 49,3% về lượng và tăng 48,9% về trị giá so với tháng 12/2024.
Tính chung cả năm 2025, xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam đạt 246,1 nghìn tấn, trị giá 1,66 tỷ USD, giảm 1,5% về lượng nhưng tăng 26,3% về trị giá so với năm 2024.
Xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam trong năm 2025 giảm về lượng nhưng tăng về trị giá so với năm 2024 nhờ giá xuất khẩu hạt tiêu tăng đáng kể. Trong năm 2025, giá bình quân xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam đạt 6.748 USD/tấn, tăng 28,2% so với năm 2024.
Mặc dù vậy, giá xuất khẩu đang tăng chậm lại trong những tháng gần đây, đạt 6.587 USD/tấn trong tháng 12/2025, tăng 0,1% so với tháng 11/2025 và tăng 0,3% so với tháng 12/2024.
Năm 2025, Việt Nam xuất khẩu chủ yếu hạt tiêu đen, chiếm 83% tổng lượng, xuất khẩu hạt tiêu trắng chỉ chiếm 13,8%. Xuất khẩu hạt tiêu chế biến của Việt Nam vẫn chiếm tỷ trọng thấp, khoảng 18,3%, không thay đổi so với năm 2024. Xuất khẩu các chủng loại hạt tiêu của Việt Nam năm 2025 giảm về lượng với hai chủng loại hạt tiêu đen và hạt tiêu trắng xay.
Trái lại, xuất khẩu chủng loại hạt tiêu trắng lại tăng đáng kể, tăng 27,8% về lượng và tăng 42,7% về trị giá so với năm 2024, đạt 24,9 nghìn tấn, trị giá 198,8 triệu USD.
Về thị trường, năm 2025, Việt Nam xuất khẩu hạt tiêu nhiều nhất sang thị trường Mỹ, chiếm 22,83% tổng lượng và chiếm 25,08% tổng trị giá nhập khẩu, giảm so với mức tỷ trọng 29,52% tổng lượng và 31% tổng trị giá của năm 2024; Xuất khẩu sang các thị trường khác chiếm từ 1-6,57% tổng lượng nhập khẩu, tùy từng thị trường.
Xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam trong năm 2025 giảm về lượng chủ yếu là do xuất khẩu sang thị trường Mỹ giảm 23,8%, ngoài ra, xuất khẩu sang một số thị trường khác cũng giảm về lượng như Các Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất giảm 10,7%, Hà Lan giảm 18,8%.
Ở chiều ngược lại, xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam sang một số thị trường khác tăng về lượng trong năm 2025 so với năm 2024 như: Đức tăng 2%, Thái Lan tăng 44,1%, Anh tăng 17,1%, Ai Cập tăng 27,5%...
Về trị giá, do giá bình quân xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam năm 2025 tiếp tục tăng đáng kể so với năm 2024, điều này đã giúp trị giá xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam sang các thị trường đều tăng.
