|
 Thuật ngữ VietnamBiz
Hàng hóa

Giá phân bón ngày 16/4 trầm lặng, phân lân và kali tiếp tục ổn định

09:12 | 16/04/2024
Chia sẻ
Theo khảo sát, giá phân bón hôm nay (16/4) tiếp tục đi ngang diện rộng. Phân kali bột Cà Mau có giá ổn định, dao động khoảng 690.000 - 750.000 đồng/bao.

Giá phân bón hôm nay tại khu vực Đông Nam Bộ - Tây Nguyên

Theo ghi nhận sáng hôm nay (16/4) cho thấy, giá phân bón lặng sóng tại khu vực Đông Nam Bộ - Tây Nguyên.

Chi tiết, phân urê Cà Mau, Phú Mỹ không có thay đổi mới về giá bán, hiện có giá bán lần lượt 580.000 - 630.000 đồng/bao và 580.000 - 640.000 đồng/bao. 

Nhỉnh hơn một chút, mức giá 750.000 - 850.000 đồng/bao được áp dụng đối với phân NPK 16 - 16 - 8.

Đơn vị tính: đồng/bao

KHU VỰC ĐÔNG NAM BỘ - TÂY NGUYÊN

Tên loại

Ngày 16/4

Ngày 13/4

Thay đổi

Phân URÊ

Cà Mau

580.000 - 630.000

580.000 - 630.000

-

Phú Mỹ

580.000 - 640.000

580.000 - 640.000

-

Phân KALI bột

Cà Mau

690.000 - 750.000

690.000 - 750.000

-

Phú Mỹ

690.000 - 750.000

690.000 - 750.000

-

Phân NPK 16 - 16 - 8

Cà Mau

750.000 - 800.000

750.000 - 800.000

-

Phú Mỹ

750.000 - 800.000

750.000 - 800.000

-

Đầu Trâu

830.000 - 850.000

830.000 - 850.000

-

Phân NPK 20 - 20 - 15 TE

Bình Điền

1.050.000 - 1.090.000

1.050.000 - 1.090.000

-

Phân Lân

Lâm Thao

300.000 - 330.000

300.000 - 330.000

-

Giá phân bón hôm nay tại khu vực miền Bắc

Cũng theo ghi nhận ngày hôm nay, thị trường phân bón trầm lặng tại khu vực miền Bắc, tương tự với khu vực Đông Nam Bộ - Tây Nguyên. 

Trong đó, phân urê Hà Bắc có giá là 560.000 - 580.000 đồng/bao và Phú Mỹ là 550.000 - 580.000 đồng/bao.

Đồng thời, phân NPK 16 - 16 - 8 Việt Nhật và Phú Mỹ đang được bán với giá trong khoảng 800.000 - 840.000 đồng/bao.

Đơn vị tính: đồng/bao

KHU VỰC MIỀN BẮC

Tên loại

Ngày 16/4

Ngày 13/4

Thay đổi

Phân URÊ

Hà Bắc

560.000 - 580.000

560.000 - 580.000

-

Phú Mỹ

550.000 - 580.000

550.000 - 580.000

-

Phân NPK 16 - 16 - 8 + TE

Việt Nhật

870.000 - 890.000

870.000 - 890.000

-

Phân Supe Lân

Lâm Thao

260.000 - 290.000

260.000 - 290.000

-

Phân NPK 16 - 16 - 8

Việt Nhật

800.000 - 840.000

800.000 - 840.000

-

Phú Mỹ

800.000 - 840.000

800.000 - 840.000

-

Phân KALI bột

Canada

650.000 - 680.000

650.000 - 680.000

-

Hà Anh

650.000 - 670.000

650.000 - 670.000

-

 

 

 

Các nhà khoan dầu Mỹ cắt giảm số giàn khoan dầu và khí đốt tuần thứ tư liên tiếp 

Ngày 12 tháng 4,  các công ty năng lượng Mỹ trong tuần này đã cắt giảm số lượng giàn khoan dầu và khí tự nhiên đang hoạt động tuần thứ tư liên tiếp lần đầu tiên kể từ tháng 9 năm 2023, công ty dịch vụ năng lượng Baker Hughes cho biết trong báo cáo được theo sát hôm thứ Sáu.

Số giàn khoan dầu và khí đốt, một chỉ báo sớm về sản lượng tương lai, đã giảm 3 giàn xuống  617 giàn trong tuần tính đến ngày 12 tháng 4, mức thấp nhất kể từ tháng 11 . 

Số lượng giàn khoan dầu khí giảm khoảng 20% ​​vào năm 2023 sau khi tăng 33% vào năm 2022 và 67% vào năm 2021, do giá dầu và khí đốt giảm, chi phí lao động và thiết bị cao hơn do lạm phát tăng cao và do các công ty tập trung vào việc trả nợ. nợ và tăng lợi nhuận cho cổ đông thay vì tăng sản lượng.

Giá dầu tương lai của Mỹ đã tăng  khoảng 20%  ​​từ đầu năm 2024 sau khi giảm 11% vào năm 2023. Trong khi đó, giá khí đốt tương lai  NGc1 của Mỹ đã giảm khoảng  30%  từ đầu năm 2024 sau khi giảm 44% vào năm 2023.

Giá dầu thô đã tăng lên mức cao nhất trong năm nay, nhưng thị trường khí đốt tự nhiên yếu, chi phí cao hơn và sự tập trung vào lợi nhuận của cổ đông từ sản xuất mới đang khiến các công ty  khai thác đá phiến  không thể tăng sản lượng lớn tại quốc gia sản xuất dầu khí hàng đầu thế giới này, theo Natural Gas World

Sản lượng dầu thô của Mỹ  được dự báo sẽ tăng  từ mức kỷ lục 12,9 triệu thùng/ngày vào năm 2023 lên 13,2 triệu thùng/ngày vào năm 2024 và 13,7 triệu thùng/ngày vào năm 2025, theo triển vọng mới nhất của Cơ quan Thông tin Năng lượng Hoa Kỳ (EIA).

Tuy nhiên, theo EIA, giá khí đốt giảm xuống mức thấp nhất trong 3 năm rưỡi vào tháng 2 và tháng 3 sẽ làm giảm sản lượng khí đốt của Mỹ xuống 103,6 tỷ feet khối mỗi ngày (bcfd) vào năm 2024 từ mức kỷ lục 103,8 bcfd vào năm 2023. khi một số nhà sản xuất cắt giảm chi tiêu và giảm hoạt động khoan dầu.

 

Ảnh: Gia Ngọc

 

 

Gia Ngọc

Nên bỏ tiền vào tài sản đầu tư nào: Vàng, chứng khoán hay bất động sản?
Rót tiền vào đâu luôn là mối quan tâm thường trực của các nhà đầu tư. Việc quyết định đầu tư vàng, cổ phiếu hay bất động sản... phụ thuộc vào tình hình vĩ mô cùng những thông tin kinh tế, xã hội trong nước và thế giới. Tuy nhiên, không có công thức chung nào cho tất cả. Nhà đầu tư hoàn toàn có thể điều chỉnh chiến lược phù hợp với bối cảnh kinh tế và khẩu vị của bản thân nhằm gia tăng lợi nhuận.