Thời sự

World Bank: Tăng trưởng GDP Việt Nam 2019 dự báo giảm còn 6,6% do sức cầu bên ngoài yếu và tín dụng thắt chặt

17:23 | 01/07/2019

Chia sẻ

Tăng trưởng GDP trong năm 2019 được World Bank dự báo sẽ giảm còn 6,6% do sức cầu bên ngoài yếu đi và chính sách tài khóa và tín dụng tiếp tục bị thắt chặt. Chỉ số lạm phát dự kiến vẫn được duy trì dưới chỉ tiêu lạm phát chính thức là 4%.

Áp lực từ sức cầu yếu

Đà tăng trưởng của Việt Nam chậm lại kể từ đầu năm nhưng triển vọng vẫn tích cực. Đó là nhận định trong báo cáo bán thường niên của Ngân hàng Thế giới (World Bank) về tình hình kinh tế Việt Nam.

Trong kì báo cáo lần này, ngành dịch vụ đạt kết quả tốt - dấu hiệu cho thấy nhu cầu trong nước và đặc biệt là tiêu dùng tư nhân vẫn tăng bền vững. Tỉ lệ nợ trên GDP giảm từ mức đỉnh 63,7% năm 2016 xuống còn khoảng 58,4% năm 2018. 

Phát biểu tại buổi họp báo công bố báo cáo bán thường niên, ông Sebastian Eckardt Chuyên gia Kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, cho biết tăng trưởng gần đây giảm tốc là do tác động dội của những yếu tố bất lợi bên ngoài đối với các ngành kinh tế quan trọng. 

ảnh_Viber_2019-07-01_16-33-16

Họp báo công bố báo cáo bán thường niên của World Bank. Ảnh: Đức Quỳnh

Dịch tả heo châu Phi bùng phát và giá cả quốc tế suy giảm gây ảnh hưởng đến sản lượng nông nghiệp. Đồng thời, sức cầu bên ngoài yếu đi làm tăng trưởng chững lại ở các ngành chế biến, chế tạo định hướng xuất khẩu. 

Mặc dù có dấu hiệu cho thấy tăng trưởng chững lại theo chu kì, báo cáo nhận định rằng triển vọng của Việt Nam vẫn tích cực. Tăng trưởng GDP trong năm 2019 được World Bank dự báo sẽ giảm còn 6,6% do sức cầu bên ngoài yếu đi và chính sách tài khóa và tín dụng tiếp tục bị thắt chặt. Chỉ số lạm phát dự kiến vẫn được duy trì dưới chỉ tiêu lạm phát chính thức là 4%.


201720182019
Tăng trưởng GDP6,8%7,1%6,6%
CPI3,5%3,5%3,7%

Dự báo tăng trưởng GDP và CPI trong năm 2019. Số liệu: World Bank

Còn nhiều rủi ro

Ông Sebastian Eckardt chỉ ra rủi ro tiếp tục gia tăng do tình trạng bất định toàn cầu tăng lên với khi căng thẳng thương mại tái leo thang và biến động tài chính nhiều hơn. 

Rủi ro bên ngoài còn trở nên phức tạp hơn khi kết hợp với những nguy cơ dễ tổn thương trong nước, bao gồm chậm trễ trong trình củng cố tình hình tài khóa, cải cách doanh nghiệp nhà nước và khu vực ngân hàng, gây ảnh hưởng đến cảm nhận của nhà đầu tư và viễn cảnh tăng trưởng.

Mặc dù vậy, ông Sebastian Eckardt cũng cho rằng căng thẳng thương mại cũng tạo ra cơ hội cho Việt Nam khi xu hướng chuyển dịch đầu tư vào Việt Nam tăng hơn.

"Trước đây, việc Trung Quốc chuyển hướng đầu tư sang Việt Nam đã có rồi. Tuy nhiên, sau khi căng thẳng thương mại Mỹ - Trung ngày càng tăng cao, xu hướng chuyển dịch này càng cao hơn", ông Sebastian Eckardt nhận định.

Mặc dù vậy, ông Sebastian Eckardt cũng chỉ ra: "Tôi không kì vọng quá nhiều khi nói về lợi ích từ chuyển đổi thương mại này của Trung Quốc này do năng lực của Việt Nam vẫn còn hạn chế. Việt Nam chỉ lắp ráp khâu cuối cùng nên giá trị rất thấp".

Tuy nhiên, trong bối cảnh chung khi Việt Nam vừa kí kết hiệp định CPTPP và EVFTA, ông Sebastian Eckardt cho rằng điều này sẽ cải thiện tâm lí nhà đầu tư về lợi ích từ chuyển dịch thương mại. Đặc biệt đối với EVFTA có tác động cao đối với thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài và xuất khẩu nếu Việt Nam thực hiện tốt các cam kết.

Ông Ousmane Dione, Giám đốc quốc gia của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam nhận định: "Việt Nam cần chuẩn bị điều chỉnh chính sách kinh tế vĩ mô trong trưởng hợp rủi ro nêu trên, trở thành hiện thực, dẫn đến suy giảm sâu hơn so với dự kiến. 

Việt Nam cũng sẽ phải tiếp tục tăng cường chiều sâu cải cách cơ cấu, nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu, tăng cường chiều sâu hội nhập thương mại thông qua các hiệp định khu vực và đa phương".

Ông Ousmane Dione cũng nhận định trong thời gian tới tiềm ẩn nhiều rủi ro, do đó, Việt Nam cần có điều chỉnh về chính sách vĩ mô trong trường hợp rủi ro phát sinh. 

Ông Sebastian Eckardt cho rằng Việt Nam cần đổi mới quản lí để giảm chi phí kinh doanh. Đồng thời, Việt Nam cũng cần cải cách ngân hàng để đẩy nhanh xử lí nợ xấu và đảm bảo đủ đệm vốn nhằm giảm thiểu rủi ro hệ thống và nâng cao hiệu quả cho các tổ chức tài chính.

Đức Quỳnh

Theo Kinh tế & Tiêu dùng