|
 Thuật ngữ VietnamBiz
Quốc tế

Nợ công vượt quá 100% GDP: Hồi chuông báo động với kinh tế Mỹ và sự thờ ơ của Washington

10:22 | 18/05/2026
Chia sẻ
Ngoại trừ một vài bài phát biểu nghiêm trọng và các bài luận bày tỏ sự lo ngại trên mặt báo, hầu như chẳng ai tỏ ra thực sự hoảng sợ trước thông tin nợ công Mỹ vượt quá 100% GDP.

Nhiều năm qua, các chuyên gia ủng hộ giảm thâm hụt ngân sách luôn tìm mọi cách để thức tỉnh giới chính trị gia và công chúng Mỹ trước thực trạng nợ liên bang đang leo thang. Họ từng kỳ vọng cột mốc đáng báo động mới này sẽ tạo ra cú sốc tâm lý đủ mạnh: Nợ công của Mỹ đã chính thức vượt ngưỡng 100% tổng sản phẩm quốc nội (GDP).

“Chúng ta đã nghe quá nhiều hồi chuông cảnh báo trong vài năm qua, nhưng hồi chuông lần này đặc biệt vang dội”, Ủy ban vì một Ngân sách Liên bang Có trách nhiệm (CRFB) - tổ chức tính toán tỷ lệ nợ liên bang do công chúng nắm giữ so với GDP - nhận định. Đồng quan điểm, Quỹ Peterson gọi đây là một cột mốc tài khóa đáng báo động.

Thế nhưng, ngoại trừ một vài bài phát biểu nghiêm trọng và các bài luận bày tỏ sự lo ngại trên mặt báo, hầu như chẳng ai tỏ ra thực sự hoảng sợ.

 

Chỉ vòng một tuần sau khi cột mốc thống kê này được công bố, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth đã có mặt tại Đồi Capitol để bảo vệ đề xuất ngân sách Lầu Năm Góc lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ.

Ngay sau đó, Thượng viện tiếp tục thúc đẩy việc thông qua gói thực thi nhập cư trị giá 72 tỷ USD thông qua quy trình đối chiếu ngân sách - một cơ chế giúp vô hiệu hóa chính các quy định của Thượng viện đối với các dự luật làm tăng thâm hụt.

Trên thực tế, việc vượt qua cột mốc 100% không làm thay đổi bản chất của bất kỳ điều gì. Nợ công không giống như một “hồ chứa nước” sẽ bắt đầu tràn bờ khi vượt quá 100% dung tích. “99% là một con số tồi tệ. 101% thì tệ hơn 100%. Chúng ta chỉ đang làm quá lên vì 100% là một con số tròn trịa”, ông Michael Peterson, Giám đốc điều hành của Quỹ Peterson thừa nhận.

Điều đáng quan ngại hơn nằm ở chỗ: Cuộc khủng hoảng này chưa thấy hồi kết.

Và nếu các chuyên gia tài khóa không thể thúc đẩy hành động ngay cả khi cột mốc lịch sử này bị phá vỡ. Giải pháp nào mới thực sự khả thi?

Nợ công của Mỹ đã chính thức vượt ngưỡng 100% tổng sản phẩm quốc nội (GDP). (Nguồn: Money Mental)

Phơi bày nguồn gốc của “núi nợ”

Khối nợ khổng lồ của Mỹ tích tụ từ chi phí giải cứu nền kinh tế sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007–2008, giai đoạn suy thoái do đại dịch COVID-19, chi phí chăm sóc nhóm dân số già ngày một tăng, cùng các đợt cắt giảm thuế liên tục không đi kèm với giảm chi tiêu. Cuối cùng, nó tạo thành một hiệu ứng tuyết lăn khi chính phủ phải vay nợ mới chỉ để trả lãi cho các khoản nợ cũ.

Lần gần nhất nợ liên bang của Mỹ vượt GDP là ngay sau Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhưng tình trạng đó không kéo dài. Sau đỉnh điểm ấy, tỷ lệ nợ trên GDP đã giảm mạnh xuống còn 23% vào năm 1974 nhờ tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, các giai đoạn thặng dư ngân sách ngắn hạn và tác động của lạm phát giúp bào mòn giá trị thực của nợ.

Ngược lại, trong bối cảnh hiện tại, Văn phòng Ngân sách Quốc hội (CBO) dự báo nợ công do công chúng nắm giữ sẽ tiếp tục phình to và chạm mức 175% GDP vào năm 2056.

Nhiều năm qua, lãi suất siêu thấp đã giúp việc duy trì các khoản nợ lớn nằm trong tầm tay. Tuy nhiên, tuần này, lợi suất trái phiếu kho bạc kỳ hạn 30 năm đã chạm mức 5,12%, mức cao nhất kể từ năm 2007, tăng vọt so với mức đáy 1% vào năm 2020. Chi phí trả lãi thuần của chính phủ liên bang hiện đã vượt qua cả ngân sách quốc phòng.

Bà Ellen Zentner, chiến lược gia kinh tế trưởng tại Morgan Stanley Wealth Management, cho biết các khách hàng liên tục hỏi bà liệu lộ trình nợ của chính phủ liên bang có bền vững hay không. “Đối với tôi, đó là một trong những câu hỏi dễ trả lời nhất. Câu trả lời là không”.

Những người lạc quan thường chỉ ra rằng Nhật Bản vẫn sống tốt với tỷ lệ nợ cao hơn Mỹ rất nhiều (Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF xác định nợ của chính phủ trung ương Nhật Bản chiếm tới 201% GDP vào năm 2024). Tuy nhiên, có một sự khác biệt cốt lõi: Nợ của Nhật Bản hầu hết do các nhà đầu tư trong nước nắm giữ, trong khi Mỹ phụ thuộc nặng nề vào các nguồn vốn nước ngoài.

Ông Laurence Kotlikoff, nhà kinh tế học tại Đại học Boston, gần đây đã tính toán rằng vị thế tài chính của Mỹ thậm chí còn tồi tệ hơn cả Ý nếu tính gộp cả An sinh Xã hội, Medicare và các nghĩa vụ bắt buộc khác vốn không xuất hiện trong số liệu nợ chính thức. 

Kinh tế Mỹ đang ở mức báo động. (Nguồn: CNBC)

Theo ông Enrique Mendoza, nhà kinh tế học tại Đại học Pennsylvania, việc chỉ ổn định tỷ lệ nợ là không đủ. Đưa tỷ lệ này trở lại mức 60% hoặc thấp hơn mới có thể giúp chính phủ tạo dư địa tài khóa để vay mượn quy mô lớn khi có tình trạng khẩn cấp tiếp theo xảy ra, đồng thời giúp kinh tế tăng trưởng nhanh hơn do chính phủ không phải cạnh tranh nguồn vốn với khu vực tư nhân.

Thế nhưng, giải pháp của Mendoza gần như là một điều bất khả thi ở thời điểm hiện tại. Nhà Trắng đang yêu cầu mức ngân sách quốc phòng lên tới 1,5 nghìn tỷ USD cho năm tài chính 2027 (tăng 44%), trong khi hoàn toàn ngó lơ các chương trình phúc lợi xã hội vốn là động lực chính thúc đẩy chi tiêu dài hạn.

Theo ước tính của tờ Politico, ủy ban cắt giảm thâm hụt do tỷ phú Elon Musk dẫn dắt vào năm ngoái chỉ tạo ra khoảng 1 tỷ USD tiết kiệm bền vững - tức là chỉ bằng 1/1000 so với mục tiêu ban đầu của vị tỷ phú này.

Có lo ngại, nhưng không có hành động

Thực tế cho thấy người dân Mỹ đang bắt đầu mất kiên nhẫn. Ông Desmond Lachman, chuyên gia cấp cao tại Viện Doanh nghiệp Mỹ (AEI), nhận định việc lợi suất trái phiếu kho bạc tăng đã đẩy lãi suất thế chấp nhà lên cao, tác động trực tiếp đến đời sống người dân và làm cho vấn đề thâm hụt ngân sách trở nên sát sườn hơn.

Trong một cuộc khảo sát của Gallup vào tháng 3, một nửa số người Mỹ được hỏi cho biết chi tiêu liên bang và thâm hụt ngân sách khiến họ cực kỳ lo lắng, xếp ngang hàng với nỗi lo về lạm phát và suy thoái kinh tế. Mối quan tâm duy nhất vượt qua vấn đề này là tính sẵn có và chi phí của dịch vụ y tế.

Các chuyên gia tài khóa đang nỗ lực tìm cách cụ thể hóa mối lo ngại đó của công chúng thành hành động hành chính, và các thông cáo báo chí rầm rộ về cột mốc 100% GDP là một ví dụ.

Dù vậy, ông Benjamin Larin, nhà kinh tế học tại Đại học Jonkoping (Thụy Điển), người từng nghiên cứu về tác động của các ngưỡng số tròn đối với kỳ vọng lạm phát, lại tỏ ra hoài nghi về hiệu quả của phương pháp này đối với nợ công.

Nợ công Mỹ đang 'phình to'. (Nguồn: Financial Reedom)

“Nợ chính phủ là một khái niệm quá xa vời với trải nghiệm sống hàng ngày của người dân, và nó chủ yếu được lọc qua lăng kính của truyền thông và các trung gian chính trị’, ông Larin nhận định.

Nhà kinh tế học Jason Furman của Đại học Harvard dù rất lo ngại về nợ công nhưng cũng phải thừa nhận rằng chưa có nhiều bằng chứng rõ ràng về tác hại của nó đối với nền kinh tế tính đến thời điểm hiện tại.

“Nếu vào năm 2000, bạn yêu cầu ai đó dự đoán nền kinh tế sẽ ra sao trong một thế giới mà nợ công bằng 100% GDP và thâm hụt ngân sách chiếm 6% GDP, họ có lẽ sẽ dự báo về một mức lãi suất siêu cao và thậm chí là một cuộc khủng hoảng kinh tế thảm khốc,”, ông Furman viết trong một bài báo cho Viện Aspen.

Vì kịch bản thảm họa đó vẫn chưa xảy ra, nên ở thời điểm hiện tại, lựa chọn án binh bất động đối với giới chính trị gia vẫn dễ dàng hơn nhiều so với việc phải đưa ra những quyết định đau đớn: Thắt lưng buộc bụng bằng cách tăng thuế và cắt giảm chi tiêu công.

Sự thụ động này khiến những chuyên gia tài khóa như ông Peterson không khỏi phẫn nộ: “Tôi nghĩ đây là thời điểm mà năng lực lãnh đạo cần phải được thể hiện rõ ràng nhất. Việc sửa chữa sai lầm này không thuộc về trách nhiệm của người dân Mỹ. Đó là nhiệm vụ của những nhà lãnh đạo do họ bầu ra”.

Châu Anh (Theo The New York Times)

Ông Trần Ngọc Báu: Giai đoạn 'khó khăn' nhất của lạm phát đã đi qua, từ tháng 5 bắt đầu dịu đi, tiêu dùng thực rất yếu
Theo ông Trần Ngọc Báu, giai đoạn 'khó khăn' nhất của lạm phát năm nay đã đi qua, từ tháng 5 sẽ bắt đầu dịu đi. Tuy nhiên, lạm phát sẽ tác động đến hành vi tiêu dùng của người dân khiến sức mua thực tế vốn tăng trưởng chậm càng giảm sút.