|
 Thuật ngữ VietnamBiz
Hàng hóa

Giá tiêu hôm nay 16/7: Tiếp đà tăng, nhiều địa phương nhích thêm 500 đồng/kg

06:00 | 16/07/2026
Chia sẻ
Giá tiêu hôm nay tăng nhẹ thêm 500 đồng/kg ở một số địa phương, dao động từ 137.000 - 140.000 đồng/kg. Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho rằng nếu nhu cầu từ các thị trường nhập khẩu lớn tiếp tục cải thiện, giá tiêu nhiều khả năng sẽ duy trì ở mức cao và có dư địa tăng thêm trong nửa cuối năm 2026.

Cập nhật giá tiêu

Tại thị trường trong nước

Khảo sát cho thấy, giá tiêu hôm nay tăng nhẹ 500 đồng/kg tại một số địa phương sản xuất trọng điểm, đưa mặt bằng giá thu mua lên dao động từ 137.000 - 140.000 đồng/kg.

Cụ thể, tại Bà Rịa - Vũng Tàu (TP. Hồ Chí Minh), giá tiêu tăng 500 đồng/kg, lên mức 138.000 đồng/kg. Tương tự, Đồng Nai và Gia Lai cũng đồng loạt tăng 500 đồng/kg, với giá giao dịch lần lượt đạt 137.500 đồng/kg và 137.000 đồng/kg.

Trong khi đó, giá tiêu tại Đắk Lắk và Đắk Nông (tỉnh Lâm Đồng) giữ ổn định ở mức 140.000 đồng/kg, tiếp tục là hai địa phương có giá thu mua cao nhất cả nước.

Thị trường

(khu vực khảo sát)

Giá thu mua ngày 16/7

(Đơn vị: VNĐ/kg)

Thay đổi so với ngày hôm trước (Đơn vị: VNĐ/kg)

Đắk Lắk

140.000

-

Gia Lai

137.000

+500

Đắk Nông

140.000

-

Bà Rịa – Vũng Tàu

138.000

+500

Bình Phước

137.500

+500

Đồng Nai

137.500

+500

 

Trên thị trường thế giới

Trên thị trường xuất khẩu, giá tiêu tại các quốc gia sản xuất hàng đầu vẫn duy trì ổn định từ cuối tuần trước.

Dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC) cho thấy giá tiêu đen xuất khẩu của Việt Nam đang được chào bán ở mức 5.850 USD/tấn và 5.950 USD/tấn đối với loại 500 g/l và 550 g/l.

Tại Indonesia, giá tiêu đen được niêm yết ở mức 7.079 USD/tấn. Trong khi đó, tiêu đen Brazil loại ASTA 570 vẫn có giá 5.900 USD/tấn, còn Malaysia duy trì ở mức 9.350 USD/tấn.

Tên loại

Bảng giá tiêu đen thế giới

Ngày 16/7 (ĐVT: USD/tấn)

% thay đổi so với hôm trước

Tiêu đen Lampung (Indonesia)

7.079

-

Tiêu đen Brazil ASTA 570

5.900

-

Tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA

9.350

-

Tiêu đen Việt Nam (500 g/l)

5.850

-

Tiêu đen Việt Nam (500 g/l)

5.950

-

Cùng thời điểm khảo sát, giá tiêu trắng Muntok của Indonesia giữ ổn định ở mức 9.198 USD/tấn. Tại Việt Nam và Malaysia, tiêu trắng lần lượt được báo giá ở mức 8.200 USD/tấn và 12.250 USD/tấn.

Tên loại

Bảng giá tiêu trắng thế giới

Ngày 16/7 (ĐVT: USD/tấn)

% thay đổi so với hôm trước

Tiêu trắng Muntok Indonesia

9.198

-

Tiêu trắng Malaysia ASTA

12.250

-

Tiêu trắng Việt Nam

8.200

-

Cập nhật thông tin hồ tiêu

Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho biết, diễn biến giá hạt tiêu nội địa trong tháng 7/2026 cho thấy thị trường đang bước vào giai đoạn ổn định và có xu hướng phục hồi nhẹ, được hỗ trợ bởi nguồn cung trong nước giảm và nhu cầu thu mua phục vụ xuất khẩu duy trì tích cực.

Nếu nhu cầu từ các thị trường nhập khẩu lớn tiếp tục cải thiện trong những tháng tới, giá hạt tiêu trong nước nhiều khả năng sẽ duy trì ở mức cao và có dư địa tăng thêm trong nửa cuối năm 2026.

Trên thị trường thế giới, biến động giá trong tháng 7/2026 cho thấy thị trường hạt tiêu thế giới chưa hình thành xu hướng rõ rệt mà đang trong giai đoạn điều chỉnh và phân hóa theo từng quốc gia sản xuất.

Đối với Việt Nam, việc giá xuất khẩu duy trì ổn định trong bối cảnh nhiều thị trường biến động là tín hiệu tích cực, góp phần tạo sự chủ động cho doanh nghiệp trong thực hiện các hợp đồng xuất khẩu và hạn chế rủi ro từ biến động giá ngắn hạn.

Theo thống kê từ Cục Hải quan, xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam trong tháng 6/2026 đạt 24,1 nghìn tấn, trị giá 160,6 triệu USD, giảm 3,9% về lượng và giảm 3,7% về trị giá so với tháng 5/2026, nhưng tăng 3,6% về lượng và tăng 2,1% về trị giá so với tháng 6/2025.

Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam đạt 146 nghìn tấn, trị giá 950,17 triệu USD, tăng 18,5% về lượng và tăng 12,1% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.

Giá bình quân xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam trong tháng 6/2026 đạt 6.659 USD/tấn, tăng nhẹ 0,2% so với tháng 5/2026, nhưng giảm 1,5% so với tháng 6/2025. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, giá bình quân xuất khẩu đạt 6.508 USD/ tấn, giảm 5,4% so với cùng kỳ năm 2025.

Hoàng Hiệp