Giá tiêu hôm nay 3/8: Việt Nam chiếm gần 62% thị phần hồ tiêu tại EU, khẳng định vị thế xuất khẩu
Cập nhật giá tiêu
- TIN LIÊN QUAN
-
Giá tiêu hôm nay 2/8: Hạ nhiệt cuối tuần, giá tiêu vẫn tăng so với tuần trước 02/08/2026 - 12:58
Tại thị trường trong nước
Ghi nhận trong sáng nay, giá tiêu tại các vùng nguyên liệu trọng điểm vẫn dao động trong khoảng 138.000 - 141.000 đồng/kg.
Cụ thể, Đắk Nông (tỉnh Lâm Đồng) tiếp tục là địa phương có giá cao nhất cả nước, đạt 141.000 đồng/kg. Tiếp đến là Đắk Lắk với 140.000 đồng/kg, trong khi Gia Lai, Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu (TP. Hồ Chí Minh) cùng được giao dịch ở mức 138.000 đồng/kg.
|
Thị trường (khu vực khảo sát) |
Giá thu mua ngày 3/8 (Đơn vị: VNĐ/kg) |
Thay đổi so với ngày hôm trước (Đơn vị: VNĐ/kg) |
|
Đắk Lắk |
140.000 |
- |
|
Gia Lai |
138.000 |
- |
|
Đắk Nông |
141.000 |
- |
|
Bà Rịa – Vũng Tàu |
138.000 |
- |
|
Bình Phước |
138.000 |
- |
|
Đồng Nai |
138.000 |
- |
Trên thị trường thế giới
Trong phiên giao dịch đầu tuần, theo dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá tiêu đen của Indonesia vẫn được niêm yết ở mốc 6.760 USD/tấn, tiêu đen Brazil ASTA 570 có giá 5.700 USD/tấn, trong khi Malaysia đạt 9.300 USD/tấn.
Tại Việt Nam, giá xuất khẩu tiêu đen cũng đi ngang trong khoảng 5.970 - 6.050 USD/tấn đối với các chủng loại 500 g/l và 550 g/l.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu đen thế giới |
|
|
Ngày 3/8 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu đen Lampung (Indonesia) |
6.760 |
- |
|
Tiêu đen Brazil ASTA 570 |
5.700 |
- |
|
Tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA |
9.300 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
5.970 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
6.050 |
- |
Cùng thời điểm khảo sát, giá tiêu trắng Muntok của Indonesia được giao dịch ở mức 9.317 USD/tấn, không đổi so với ngày hôm trước.. Trong khi đó, giá tiêu trắng xuất khẩu của Việt Nam và Malaysia lần lượt được chào bán ở mức 8.350 USD/tấn và 12.200 USD/tấn.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu trắng thế giới |
|
|
Ngày 3/8 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu trắng Muntok Indonesia |
9.317 |
- |
|
Tiêu trắng Malaysia ASTA |
12.200 |
- |
|
Tiêu trắng Việt Nam |
8.350 |
- |
Cập nhật thông tin hồ tiêu
- TIN LIÊN QUAN
-
Xuất khẩu sầu riêng vượt 1 tỷ USD sau nửa năm, giá vẫn suy yếu 30/07/2026 - 11:35
Trong báo cáo mới nhất, Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho biết theo số liệu của Cơ quan Thống kê châu Âu (Eurostat), nhập khẩu hạt tiêu (mã HS 090411 và HS 090412) của EU từ các thị trường ngoại khối trong 5 tháng đầu năm 2026 đạt 24,99 nghìn tấn, trị giá 193,28 triệu USD, giảm 14,1% về lượng và giảm 15,3% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Lượng hạt tiêu nhập khẩu của EU các tháng đầu năm 2026 gần như liên tục giảm so với cùng kỳ năm 2025, trừ tháng 4/2026 tăng nhẹ, cho thấy nhu cầu tiêu thụ tại khu vực vẫn chưa phục hồi, trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế còn chậm và các doanh nghiệp tiếp tục duy trì chính sách kiểm soát tồn kho.
Tháng 5/2026, EU nhập khẩu 5,63 nghìn tấn hạt tiêu từ thị trường ngoại khối, trị giá 37,86 triệu USD, giảm 10,8% về lượng và giảm 11,1% về trị giá so với tháng 4/2026; So với tháng 5/2025, lượng nhập khẩu giảm 17,3% và trị giá giảm 20,0%. Như vậy, sau khi tăng nhẹ trong tháng 4/2026 so với cùng kỳ năm trước, nhập khẩu hạt tiêu của EU đã quay trở lại xu hướng giảm trong tháng 5/2026.
Về nguồn cung, trong 5 tháng đầu năm 2026, Việt Nam tiếp tục là nguồn cung hạt tiêu lớn nhất cho EU, đạt 15,43 nghìn tấn, chiếm 61,73% tổng lượng nhập khẩu từ các thị trường ngoại khối. Mặc dù lượng nhập khẩu giảm 16,1% so với cùng kỳ năm 2025 và thị phần giảm nhẹ từ 63,22% của 5 tháng đầu năm 2025 xuống còn 61,73% trong 5 tháng đầu năm 2026, Việt Nam vẫn khẳng định vị thế tại thị trường EU.
Bên cạnh lợi thế về quy mô nguồn cung, giá hạt tiêu của Việt Nam cũng đang cạnh tranh hơn, bình quân đạt 6.633 USD/tấn, thấp hơn mức giá nhập khẩu bình quân của EU cũng như thấp hơn Indonesia, Ấn Độ và Sri Lanka, góp phần tăng sức cạnh tranh tại thị trường này.
Tuy nhiên, tỷ trọng nhập khẩu hạt tiêu của EU từ Brazil, Sri Lanka và Madagascar tăng. Điều này cho thấy Việt Nam cần tiếp tục nâng cao chất lượng, đáp ứng tốt các tiêu chuẩn của EU và đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm chế biến để duy trì lợi thế cạnh tranh trong thời gian tới.

TRỰC TIẾP