Giá tiêu hôm nay 4/8: Xuất khẩu tiêu quý II tăng về lượng nhưng giảm về giá
Cập nhật giá tiêu
- TIN LIÊN QUAN
-
Giá tiêu hôm nay 3/8: Việt Nam chiếm gần 62% thị phần hồ tiêu tại EU, khẳng định vị thế xuất khẩu 03/08/2026 - 07:30
Tại thị trường trong nước
Theo khảo sát, giá tiêu sáng nay tại các vùng trồng trọng điểm trên cả nước tiếp tục ổn định, dao động từ 138.000 - 141.000 đồng/kg.
Trong đó, Đắk Nông (tỉnh Lâm Đồng) vẫn là địa phương có giá thu mua cao nhất, đạt 141.000 đồng/kg. Đắk Lắk đứng ngay sau với 140.000 đồng/kg, còn Gia Lai, Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu (TP. Hồ Chí Minh) phổ biến ở mức 138.000 đồng/kg.
|
Thị trường (khu vực khảo sát) |
Giá thu mua ngày 4/8 (Đơn vị: VNĐ/kg) |
Thay đổi so với ngày hôm trước (Đơn vị: VNĐ/kg) |
|
Đắk Lắk |
140.000 |
- |
|
Gia Lai |
138.000 |
- |
|
Đắk Nông |
141.000 |
- |
|
Bà Rịa – Vũng Tàu |
138.000 |
- |
|
Bình Phước |
138.000 |
- |
|
Đồng Nai |
138.000 |
- |
Trên thị trường thế giới
Kết thúc phiên giao dịch gần nhất, giá hồ tiêu xuất khẩu trên thị trường quốc tế nhìn chung không có nhiều biến động.
Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), tiêu đen Indonesia vẫn được chào bán ở mức 6.760 USD/tấn, tiêu đen Brazil loại ASTA 570 đạt 5.700 USD/tấn, trong khi tiêu đen Malaysia tiếp tục đứng ở mức 9.300 USD/tấn.
Đối với Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu cũng duy trì ổn định, loại 500 g/l và 550 g/l hiện được chào bán trong khoảng 5.970 - 6.050 USD/tấn.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu đen thế giới |
|
|
Ngày 4/8 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu đen Lampung (Indonesia) |
6.760 |
- |
|
Tiêu đen Brazil ASTA 570 |
5.700 |
- |
|
Tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA |
9.300 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
5.970 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
6.050 |
- |
Cùng thời điểm khảo sát, giá tiêu trắng Muntok của Indonesia đi ngang ở mức 9.317 USD/tấn. Tại Việt Nam và Malaysia, giá tiêu trắng lần lượt được chào bán ở mức 8.350 USD/tấn và 12.200 USD/tấn.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu trắng thế giới |
|
|
Ngày 4/8 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu trắng Muntok Indonesia |
9.317 |
- |
|
Tiêu trắng Malaysia ASTA |
12.200 |
- |
|
Tiêu trắng Việt Nam |
8.350 |
- |
Cập nhật thông tin hồ tiêu
- TIN LIÊN QUAN
-
[Báo cáo] Thị trường hồ tiêu quý II/2026: Giá tiêu khó tăng nếu xung đột Trung Đông tiếp tục kéo dài 03/08/2026 - 11:57
Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho biết, theo thống kê từ Cục Hải quan, trong quý II/2026, xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam đạt 79,8 nghìn tấn, trị giá 519,3 triệu USD, tăng 20,8% về lượng và tăng 20,6% về trị giá so với quý I/2026; đồng thời tăng 5,1% về lượng, nhưng giảm 0,8% về trị giá so với quý II/2025.
Diễn biến xuất khẩu theo quý cho thấy, nửa đầu năm 2026, xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam tiếp tục khởi sắc, phản ánh nguồn cung được cải thiện và nhu cầu nhập khẩu từ thị trường thế giới duy trì tích cực.
Tuy nhiên, giá xuất khẩu bình quân hạt tiêu của Việt Nam trong quý II/2026 chỉ đạt 6.503 USD/tấn, giảm 0,2% so với quý I/2026 và giảm 5,6% so với quý II/2025.
Về chủng loại, cơ cấu xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam trong quý II/2026 không có biến động lớn. Hạt tiêu đen và hạt tiêu đen xay tiếp tục chiếm ưu thế, với tổng tỷ trọng là 84,1%, tăng so với 83,4% của cùng kỳ năm trước.
Xuất khẩu các chủng loại hạt tiêu của Việt Nam trong quý II/2026 hầu hết tăng về lượng so với quý II/2025, trừ xuất khẩu hạt tiêu trắng giảm 8,3% về lượng.
Trong đó, lượng hạt tiêu đen xuất khẩu tăng 5,8%, hạt tiêu đen xay tăng 7,7%, hạt tiêu trắng xay tăng 3,3%. Xét về trị giá, do giá xuất khẩu các chủng loại hạt tiêu xuất khẩu của Việt Nam trong quý II/2026 đều giảm so với quý II/2025 nên trị giá xuất khẩu các chủng loại tăng chậm hơn lượng, thậm chí giảm.
Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu các chủng loại hạt tiêu chính của Việt Nam đều tăng so với cùng kỳ năm 2025, trong đó, hạt tiêu đen là chủng loại có lượng và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu lớn nhất, đạt 100,2 nghìn tấn, trị giá 651,1 triệu USD, tăng 19,1% về lượng và tăng 15,6% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Nhìn chung, xuất khẩu các chủng loại hạt tiêu của Việt Nam trong quý II và 6 tháng đầu năm 2026 chủ yếu tăng trưởng nhờ sản lượng xuất khẩu gia tăng, trong khi giá xuất khẩu bình quân của tất cả các chủng loại đều giảm so với cùng kỳ năm 2025.

TRỰC TIẾP