|
 Thuật ngữ VietnamBiz
Quốc tế

Cuộc đua tăng lãi suất toàn cầu đang đẩy nền kinh tế thế giới đến bờ vực suy thoái

11:00 | 20/09/2022
Chia sẻ
Fed có vẻ như sẵn lòng đẩy Mỹ vào suy thoái nếu đó là cái giá phải trả để dập tắt lạm phát. Các ngân hàng trung ương khác cũng sẵn sàng cho ván cược tương tự.

 

Bà Christine Lagarde, Chủ tịch ECB và ông Jerome Powell, Chủ tịch Fed. (Ảnh: Getty Images, Bloomberg). 

Quyết tâm của các ngân hàng trung ương đang đẩy nền kinh tế thế giới tiến gần sát tới suy thoái. Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) và các đồng nghiệp trên khắp thế giới đã tỏ rõ mong muốn giành chiến thắng trước lạm phát – dẫu có phải chứng kiến nền kinh tế tăng trưởng chậm lại hoặc thu hẹp.

 

Tờ Bloomberg cho biết có khoảng 90 ngân hàng trung ương đã tăng lãi suất trong năm nay. Một nửa trong số đó từng tăng ít nhất 75 điểm cơ bản (bps) trong một lần, và nhiều ngân hàng trung ương lặp lại động thái như vậy vài lần. Ông Ethan Harris, nhà kinh tế trưởng của Bank of America gọi đây là “cuộc thi xem ai tăng lãi suất nhanh hơn”.

Chính sách tiền tệ toàn cầu đang được thắt chặt với quy mô lớn nhất trong 15 năm qua, khép lại kỷ nguyên tiền rẻ được thúc đẩy bởi khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008.

JPMorgan dự đoán quý III/2022 sẽ là lúc các ngân hàng trung ương chủ chốt tung ra các đợt tăng lãi suất lớn nhất kể từ năm 1980, và họ sẽ không sớm dừng lại.

Hy sinh GDP

Ngay tuần này, Fed được cho là sẽ tăng lãi suất chính sách lên 75 bps lần thứ ba. Một số chuyên gia kinh tế còn kêu gọi Fed nổ phát súng 100 bps. Ngân hàng Trung ương Anh (BOE) được dự đoán sẽ nâng lãi suất thêm 50 bps. Dự kiến Indonesia, Na Uy, Philippines, Thụy Điển và Thụy Sĩ cùng nhiều nước khác cũng sẽ noi theo.

 

Cùng lúc đó, các nhà hoạch định chính sách cũng bắt đầu công khai cảnh báo rằng lãi suất càng lên cao thì rủi ro tới tăng trưởng và việc làm cũng càng tăng.

Tháng trước, Chủ tịch Fed Jerome Powell thừa nhận chiến dịch khống chế lạm phát của ông “sẽ gây ra một vài nỗi đau cho các hộ gia đình và doanh nghiệp”.

Bà Isabel Schnabel, thành viên hội đồng quản trị của Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB), thì nhắc đến “tỷ lệ hy sinh” - một thuật ngữ để chỉ nguy cơ tổn thất sản lượng kinh tế nhằm kiểm soát lạm phát. BOE đi xa tới mức dự báo suy thoái kinh tế tại Anh sẽ diễn ra vào cuối năm nay và có thể kéo dài đến năm 2024.

Chắc chắn "liều thuốc" chính sách tiền tệ sẽ đem đến nỗi đau, nhưng đau đến mức nào? Các nhà phân tích tại BlackRock dự đoán để kéo lạm phát quay về mục tiêu 2%, Fed sẽ cần đến một cuộc suy thoái sâu và thêm ba triệu người thất nghiệp. Mục tiêu của châu Âu sẽ cần đến sự hy sinh lớn hơn nữa.

Bất ổn cũng sẽ gia tăng bởi độ trễ của chính sách tiền tệ tới nền kinh tế và sự bất lực của giới chức ngân hàng trung ương trước khủng hoảng năng lượng và các cú sốc nguồn cung khác.

 

Cần thời gian

Một trong những dấu hiệu cho thấy nhà đầu tư đang chờ đợi Mỹ rơi vào suy thoái là lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ kỳ hạn ngắn đã vượt kỳ hạn dài với cách biệt lớn nhất từ năm 2000 đến nay.

Một số nhà đầu tư trái phiếu đang cược rằng Fed sẽ phải nới lỏng chính sách trong nửa cuối 2023. Trong khi đó, chỉ số S&P 500 lại đang trên đường ghi nhận tổn thất hàng năm lớn nhất kể từ năm 2008.

Khảo sát của Bank of America cho thấy kỳ vọng tăng trưởng toàn cầu của các nhà quản lý quỹ đang ở gần mức thấp nhất trong lịch sử. Một trong những lý do là chính sách tiền tệ có độ trễ.

Đầu tiên, lãi suất cao hơn sẽ làm suy yếu thị trường tài chính, sau đó là nền kinh tế, và cuối cùng mới là lạm phát. Do đó, những đợt tăng lãi suất lớn lặp đi lặp lại sẽ trở nên nguy hiểm.

 

Nhà kinh tế Harris của Bank of America giải thích: “Lạm phát cần thời gian để hạ nhiệt. Nếu các nhà hoạch định chính sách bắt đầu lấy lạm phát hiện tại làm chỉ báo chính, thì họ sẽ chậm trễ trong việc ngừng chu kỳ thắt chặt”.

Ông Harris dự đoán Anh và khu vực đồng euro sẽ suy thoái trong quý IV khi chi phí năng lượng leo thang vào mùa đông giáng đòn đau lên nền kinh tế. Còn tai ương của Mỹ sẽ đến vào năm sau.

Nền kinh tế Mỹ - đặc biệt là thị trường lao động – đã thể hiện sức mạnh đáng ngạc nhiên trong thời gian qua. Nhưng theo tờ Bloomberg, các nhà kinh tế nói rằng điều này sẽ chỉ buộc Fed phải mạnh tay hơn nữa để kìm hãm nhu cầu.

Ông Donald Kohn, cựu Phó Chủ tịch Fed nói: “Lạm phát và thị trường lao động đã thể hiện sức đề kháng trước lãi suất gia tăng mạnh mẽ hơn những gì Fed tưởng. Nên từ giờ họ sẽ còn phải kéo lãi suất lên cao hơn nữa”.

Chi phí đi vay tại nhiều quốc gia, bao gồm Mỹ, đã chuyển từ kích thích sang kìm hãm tăng trưởng. Đồng USD mạnh mẽ đả thương những thị trường mới nổi nhiều nợ nần. Sự sụt giảm rõ rệt của nguồn cung khí đốt từ Nga làm gia tăng rủi ro lạm phát đình trệ tại châu Âu.

Để khi khác

Các nhà hoạch định chính sách vẫn bày tỏ hy vọng có thể khống chế lạm phát mà không khiến tăng trưởng trật bánh hoàn toàn, và sẽ đến lúc họ ngừng thắt chặt – nhưng chưa phải lúc này.

Bà Loretta Mester, Chủ tịch Fed chi nhánh Cleveland trả lời một cuộc phỏng vấn: “Đến lúc nào đó, chúng tôi sẽ phải nghĩ đến điểm trung gian giữa kích thích và kìm hãm. Nhưng giờ không phải là lúc để nghĩ về việc này. Cân nhắc đó nên để dành cho tương lai”.

Chỉ tập trung vào lạm phát sẽ làm tăng nguy cơ Fed và các ngân hàng trung ương khác hành động quá tay và xô đổ nền kinh tế của chính mình.

Ông Maurice Obstfeld, thành viên cấp cao của Viện Kinh tế Quốc tế Peterson cho biết các ngân hàng trung ương trên khắp thế giới đều đang đi cùng hướng, và điều này khiến rủi ro càng gia tăng.

Ông nói: “Các ngân hàng trung ương có nguy cơ củng cố tác động chính sách của nhau”. Ông cho biết trên thực tế, các ngân hàng cũng đang nỗ lực giúp đồng nội tệ tăng giá, xuất khẩu lạm phát ra nước ngoài. 

 

Kể từ năm 1980 đến nay, trung bình mỗi năm thế giới tăng trưởng 3,4%. Nhưng trong bối cảnh các ngân hàng trung ương đua nhau thắt chặt chính sách cùng lúc các cú sốc bắt nguồn từ COVID-19 và chiến sự Nga-Ukraine diễn ra, nhà kinh tế Obstfeld nhận thấy rủi ro tốc độ này chậm lại còn “khoảng 1%”.

Hay theo nói cách của cựu Thống đốc Fed Kevin Warsh thì “thế giới đã hội tụ đủ mọi yếu tố cho một cuộc suy thoái toàn cầu”. 

Giang

Dự báo VN-Index sẽ đạt 1.300-1.350 điểm trong nửa cuối 2023 nhờ lợi nhuận DN khởi sắc, lãi suất toàn cầu đã đạt đỉnh
Chứng khoán VNDirect cho rằng diễn biến thị trường chứng khoán Việt Nam không thực sự tích cực trong nửa đầu năm 2023 nhưng sẽ lạc quan hơn vào những tháng cuối năm.