Chứng khoán

Tại sao các thị trường mới nổi gần đây bất ngờ đi xuống?

07:04 | 30/05/2018

Chia sẻ

Giới đầu tư “phải lòng” các thị trường mới nổi được hơn hai năm nhưng giờ đây họ đã thay đổi.
tai sao cac thi truong moi noi gan day bat ngo di xuong Ba vấn đề của các thị trường mới nổi

Suốt vài tuần liền, dòng tiền chảy ra khỏi các quốc gia đang phát triển và tới Mỹ, khiến đồng USD tăng giá và đồng nội địa của các nước này lập đáy mới.

Thổ Nhĩ Kỳ, Argentina, Hungary và Indonesia là những thị trường đang bị ảnh hưởng nặng nề. Các nhà đầu tư bán tháo cổ phiếu và trái phiếu để chuyển sang các tài sản của Mỹ, an toàn hơn. Một số nhà kinh tế đang lo sợ bóng ma khủng hoảng kinh tế châu Á, như giai đoạn những năm 1990, quay trở lại.

Tại sao các thị trường mới nổi bị tổn thương?

Tiền là thứ dễ biến đổi và theo chủ nghĩa cơ hội. Nó sẽ đi tới nơi mang lại nguồn thu cao nhất, đi ra khỏi một quốc gia nhanh như lúc đến. Biến động hiện nay bắt đầu khi Mỹ, Nhật Bản và châu Âu giữ lãi suất gần hoặc dưới 0 để giúp nền kinh tế phục hồi sau khủng hoảng tài chính năm 2008, khiến lợi nhuận từ trái phiếu và cổ phiếu kém hấp dẫn.

Động thái trên khiến các nhà đầu tư chuyển hướng sang những quốc gia đang phát triển, nơi rủi ro cao hơn nhưng nguồn thu hứa hẹn hơn. Hệ quả, cổ phiếu, trái phiếu và đồng tiền của các thị trường mới nổi tăng giá.

Xu hướng ngược lại diễn ra bởi giới đầu tư phản ứng với những tín hiệu tích cực từ Mỹ như tăng trưởng mạnh hơn, lãi suất tăng và đồng USD mạnh hơn. Tất cả những yếu tố trên hứa hẹn mang lại lợi nhuận cao hơn khi đầu tư vào Mỹ, trở thành “cục nam châm hút tiền”, khiến các thị trường mới nổi kém hấp dẫn.

Tình trạng này đáng sợ đến mức nào?

Một số người coi diễn biến hiện nay chỉ là “cơn nấc cụt” của thị trường khi các nhà đầu tư đánh cược USD suy yếu bị bất ngờ trước đà tăng của đồng tiền này. Số khác cho rằng khu vực đang phát triển hiện trong tình trạng tệ hơn nhận định.

Carmen Reinhart, giáo sư đại học Harvard, nói các khoản nợ chồng chất, các cuộc chiến thương mại, lãi suất tăng và tăng trưởng trì trệ khiến các thị trường mới nổi dễ tổn thương hơn cả trước thềm cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008.

Paul Krugman, nhà kinh tế học từng đoạt giải Nobel, tin tình hình hiện nay có nét giống cuộc khủng hoảng tài chính cuối những năm 1990, khi chỉ số MSCI Các thị trường Mới nổi đối với cổ phiếu tại các quốc gia đang phát triển giảm 59%.

Nguyên nhân cuộc khủng hoảng châu Á?

Cuộc khủng hoảng châu Á bắt đầu với việc vỡ bong bóng bất động sản Thái Lan, làm mất niềm tin vào nền kinh tế, khiến giới đầu tư nước ngoài từ bỏ đồng nội địa, rút khỏi thị trường chứng khoán.

Cuộc khủng hoảng lan sang hệ thống ngân hàng rồi tới khắp Đông Á. Nhiều nền kinh tế bị ảnh hưởng từng có mức tăng trưởng mạnh, giúp che đậy những yếu kém như nợ ngân hàng không hiệu quả, phụ thuộc nặng nề vào vốn vay từ nước ngoài và thâm hụt thương mại tăng.

Do đồng nội tệ được neo vào USD, Hàn Quốc cùng nhiều quốc gia khác phải dùng dự trữ USD để bình ổn tỷ giá. Những nước này nhanh chóng cạn kiệt dự trữ USD và buộc phải để đồng nội tệ mất giá. Hiệu ứng trên lan ra khắp khu vực. Một số quốc gia cuối cùng phải xin cứu trợ từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF).

Nguy cơ xảy ra một cuộc khủng hoảng tương tự?

Không, ít nhất là chưa có nguy cơ. Lý do là các nhà đầu tư chỉ đang trừng phạt có chọn lọc những thị trường mà ở đó, các nhà lập chính sách chưa hành động đủ để ngăn mất cân bằng thương mại và lạm phát bùng nổ.

Những thị trường này gồm Thổ Nhĩ Kỳ, Argentina, những quốc gia quản lý yếu kém, nợ tính theo USD cao trong số 18 nền kinh tế mới nổi. Xếp ngay sau đó là Brazil và Indonesia.

Quốc gia nào dễ bị tổn thương?

Với những nền kinh tế phụ thuộc đồng USD hoặc ngoại tệ để phục vụ cho hoạt động thương mại, điển hình là Philippines, Ấn Độ và Indonesia, đồng nội tệ của họ đã và đang có một năm tồi tệ.

Các nước có tỷ lệ sở hữu nước ngoài với trái phiếu chính phủ cao nhất có thể dễ tổn thương nhất khi dòng vốn rút ra, trong đó có Nam Phi, Indonesia và Nga.

Tại sao Thổ Nhĩ Kỳ rơi vào tình trạng như hiện nay?

Thổ Nhĩ Kỳ là một trong những thị trường mới nổi bị ảnh hưởng nặng nề nhất, đồng lira mất hơn 17% giá trị so với USD. Thổ Nhĩ Kỳ còn là một trong những nước có thâm hụt thương mại lớn nhất G20. Tỷ lệ lạm phát là 10%.

Tuy nhiên, ngân hàng trung ương Thổ Nhĩ Kỳ lại bị Tổng thống Tayyip Erdogan ngăn tăng lãi suất. Erdogan nói ông thích lãi suất thấp, dựa trên quan điểm của ông về chính sách tiền tệ. Ông Erdogan tuyên bố sẽ kiểm soát chính sách tiền tệ hơn nữa nếu tái đắc cử sau cuộc bầu cử tháng 6.

Ngân hàng trung ương Thổ Nhĩ Kỳ tuần trước đã phải có biện pháp khẩn cấp, nâng lãi suất để cứu đồng lira. Những yếu tố trên khiến các nhà đầu tư coi Thổ Nhĩ Kỳ là quốc gia đầy rủi ro.

Tại sao nhiều quốc gia vay nợ bằng đồng USD?

Sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, các quốc gia đang phát triển tranh thủ lãi suất ở gần 0 để vay nợ. Trái phiếu định giá bằng USD thay vì đồng nội tệ để thu hút giới đầu tư, những người ưa thích đồng tiền mạnh, ổn định.

Các nhà đầu tư thế giới đôi khi bỏ qua những dấu hiệu nguy hiểm như thâm hụt thương mại gia tăng, chi tiêu công quá nhiều. Họ đều gạt đi cho đến gần đây, khi đồng USD tăng giá, đồng nghĩa những thị trường mới nổi sẽ khó trả nợ hơn. Đó là bởi nếu vay bằng USD thì quốc gia đi vay cũng phải trả nợ bằng USD. USD tăng giá tức là sẽ cần nhiều tiền bằng đồng nội tệ hơn để mua USD.

Như Tâm