|
 Thuật ngữ VietnamBiz
Tài chính

So sánh lãi suất ngân hàng kỳ hạn 3 năm mới nhất tháng 3/2021

17:44 | 05/03/2021
Chia sẻ
Ngân hàng Việt Á tiếp tục là ngân hàng có lãi suất tiết kiệm tại kì hạn 3 năm cao nhất ở mức là 7,2%/năm, không phân biệt số tiền gửi qua khảo sát trong tháng 3 này.
So sánh lãi suất ngân hàng kỳ hạn 3 năm mới nhất tháng 3/2021 - Ảnh 1.

Ảnh minh hoạ.

Trong tháng 3, vẫn có một số ngân hàng tiếp tục có sự điều chỉnh lãi suất so với đầu tháng trước tháng trước. So sánh lãi suất ngân hàng tại hơn 30 ngân hàng trong nước, có thể thấy lãi suất tiền gửi tại kỳ hạn 3 năm (36 tháng) hiện nay được áp dụng dao động trong phạm vi từ 4,6%/năm đến 7,2%/năm.

Lãi suất huy động cao nhất thuộc về Ngân hàng Việt Á với mức niêm yết là 7,2%/năm. Đây cũng là mức lãi suất không đổi so ghi nhận đầu tháng trước.

Đứng vị trí thứ hai là Kienlongbank, với lãi suất ngân hàng được quy định ở mức là 7,1%/năm, cũng được ngân hàng này giữ nguyên so với khung lãi suất đầu tháng 2.

Cũng trong bảng so sánh lãi suất ngân hàng tại kỳ hạn 3 năm, đứng thứ 3 là ngân hàng SeABank với lãi suất được áp dụng trong khoảng từ 6,72%/năm - 6,88%/năm với các điều kiện về số tiền gửi tương ứng kèm theo.

Bên cạnh đó, cũng có một số ngân hàng khác áp dụng lãi suất cao như: Oceanbank (6,8%/năm), SCB (6,8%/năm), Ngân hàng Phương Đông (OCB) với lãi suất niêm yết là 6,7%/năm,...

Với nhóm Big 4 ngân hàng có vốn nhà nước, VietinBank và BIDV ấn định chung mức lãi suất tiền gửi là 5,6%/năm trong khi Vietcombank niêm yết mức lãi suất tại kỳ hạn này là 5,3%/năm. Các mức lãi suất kể trên đều được giữ nguyên so với khảo sát đầu tháng trước. Riêng tại Agribank, ngân hàng này tiếp tục không triển khai gửi tiết kiệm tại kỳ hạn 36 tháng.

Techcombank vẫn tiếp tục là ngân hàng có lãi suất tiết kiệm thấp nhất với 4,6%/năm, tăng 0,1 điểm % so với đầu tháng trước và vẫn không quy định về điều kiện số tiền gửi.

So sánh lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 3 năm trong tháng 3/2021

STT

Ngân hàng

Số tiền gửi

Lãi suất

1

Ngân hàng Việt Á

 

7,20%

2

Kienlongbank

-

7,10%

3

SeABank

Từ 10 tỷ trở lên

6,88%

4

SeABank

Từ 5 tỷ - dưới 10 tỷ

6,82%

5

OceanBank

-

6,80%

6

SCB

-

6,80%

7

SeABank

Từ 1 tỷ - dưới 5 tỷ

6,77%

8

SeABank

Từ 500 trđ - dưới 1 tỷ

6,72%

9

Ngân hàng OCB

-

6,70%

10

SeABank

Từ 100 trđ - dưới 500 trđ

6,67%

11

PVcomBank

-

6,65%

12

Ngân hàng Quốc dân (NCB)

-

6,55%

13

Ngân hàng Bắc Á

-

6,50%

14

VietBank

-

6,50%

15

SeABank

Dưới 100 trđ

6,50%

16

Ngân hàng Bản Việt

-

6,50%

17

MBBank

-

6,40%

18

TPBank

-

6,30%

19

Ngân hàng Đông Á

-

6,30%

20

ABBank

-

6,30%

21

ACB

-

6,20%

22

VIB

Từ 1 tỷ trở lên

6,20%

23

Eximbank

-

6,20%

24

VIB

Dưới 1 tỷ

6,10%

25

Sacombank

-

6,10%

26

SHB

Từ 2 tỷ trở lên

6,10%

27

SHB

Dưới 2 tỷ

6,00%

28

Saigonbank

-

6,00%

29

HDBank

-

5,95%

30

LienVietPostBank

-

5,80%

31

VietinBank

-

5,60%

32

BIDV

-

5,60%

33

MSB

-

5,60%

34

VPBank

Từ 10 tỷ trở lên

5,50%

35

Vietcombank

-

5,30%

36

VPBank

Từ 5 tỷ - dưới 10 tỷ

5,30%

37

VPBank

Từ 300 trđ - dưới 5 tỷ

5,20%

38

VPBank

Dưới 300 trđ

5,00%

39

Techcombank

 

4,60%

Nguồn: Quỳnh Hương tổng hợp.

 


Hội thảo “Chiến lược phát triển và đầu tư bất động sản sau Nghị quyết 21 và những cập nhật chính sách”

Thời gian: 8h00 ngày 22/09/2026
Địa điểm: L7 West Lake Hanoi by Lotte Hotels, Ballroom tầng 4, 683 Lạc Long Quân, Tây Hồ, Hà Nội

Sự kiện quy tụ đại diện cơ quan quản lý, Đại biểu Quốc hội, chuyên gia bất động sản, chuyên gia kinh tế độc lập, doanh nghiệp… Các diễn giả sẽ cùng thảo luận, phân tích những nội dung quan trọng của Nghị quyết 21 và những chính sách mới; từ đó đánh giá tác động, gợi mở chiến lược phát triển và đầu tư bất động sản trong thời gian tới.

Hai phiên thảo luận chính:

Phiên 1: Nghị quyết 21 và các thay đổi pháp lý
Phiên 2: Những tác động đến tương lai phát triển và đầu tư bất động sản
Thảo luận - Hỏi đáp cùng chuyên gia

Quỳnh Hương

Bức tranh chất lượng tài sản ngân hàng: Lãi dự thu tăng gấp đôi tốc độ tăng dư nợ, cho vay qua trái phiếu tăng 41%
Chứng khoán TCBS nhận định ba rủi ro cho chất lượng tài sản ngành ngân hàng nửa cuối 2026 là nợ nhóm 2 tăng hai quý liên tiếp, dự phòng tăng chậm hơn nợ xấu, và lãi dự thu tăng 36,1% so với cùng kỳ, gấp đôi tốc độ tăng dư nợ.