Giải pháp ứng phó chính sách thuế tạm thời 150 ngày của Mỹ
Quang cảnh hội thảo. Ảnh: Xuân Anh – TTXVN
Doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam cần làm gì để biến nguy thành cơ là nội dung được các chuyên gia chia sẻ tại Hội thảo “Giải pháp ứng phó chính sách thuế tạm thời 150 ngày của Hoa Kỳ” do Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TP HCM (ITPC) phối hợp Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam Chi nhánh khu vực TPHCM (VCCI-HCM) và Viện Sáng kiến Việt Nam tổ chức tại TP HCM, ngày 25/3.
Giáo sư Trần Ngọc Anh, Đại học Indiana, Mỹ phân tích: Phán quyết ngày 20/2/2026 của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã vô hiệu hóa cơ chế áp thuế khẩn cấp theo Đạo luật quyền lực kinh tế khẩn cấp quốc tế (IEEPA), khiến chính sách thuế đối ứng mà Tổng thống Donald Trump áp dụng trước đó bị dừng kể từ 0 giờ ngày 24/2/2026.
Tuy nhiên, khoảng trống này nhanh chóng được lấp bằng “phụ phí nhập khẩu” 10% theo Chương 122, Đạo luật Thương mại Hoa Kỳ 1974 để bảo vệ cán cân thanh toán. Mức thuế này có thời hạn cứng là 150 ngày, kéo dài đến 24/7/2026; đồng thời chính quyền Mỹ cũng khởi động điều tra theo Chương 301 về tình trạng dư thừa năng lực và lao động nhằm áp dụng các chế tài thương mại thay thế khi Chương 122 hết hạn.
Theo Giáo sư Trần Ngọc Anh, chính sách thuế đối ứng bị vô hiệu hoá giúp thuế suất thực tế đối với hàng Việt Nam xuất vào Mỹ tạm thời giảm, trung bình từ 21,6% xuống còn 16%, tạo “khoảng trống” ngắn hạn để doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu trước nguy cơ thuế tăng trở lại vào nửa cuối năm.
Ở diễn biến khác, xung đột tại Trung Đông đang đẩy giá năng lượng tăng cao, gây áp lực lạm phát tại Mỹ. Yếu tố này có thể khiến nước này phải cân nhắc mở rộng miễn trừ thuế nhằm ổn định giá cả, qua đó phần nào kìm hãm xu hướng siết chặt thương mại. Dù vậy, rủi ro đối với Việt Nam vẫn gia tăng. Thặng dư thương mại lớn khiến Việt Nam trở thành đối tượng được chú ý trong các cuộc điều tra về “dư thừa năng lực”.
Cùng với đó, cơ cấu xuất khẩu phụ thuộc lớn vào khu vực FDI khiến lợi ích phân bổ không đồng đều, trong khi rủi ro pháp lý gia tăng.
Đặc biệt, ngành dệt may và da giày đang đối mặt với nguy cơ hiện hữu từ cuộc điều tra lao động cưỡng bức (mở rộng Đạo luật UFLPA) nhắm vào 60 quốc gia. Việc không thực hiện truy xuất nguồn gốc (Traceability) tới tận nhà cung cấp nguyên liệu thô cấp 2, cấp 3 có thể khiến toàn bộ lô hàng bị giữ tại cửa khẩu Mỹ.
Sau mốc 24/7/2026, chính sách thuế quan của Mỹ có thể diễn biến theo ba kịch bản: tăng thuế lên 20–30% theo Chương 301; nới lỏng về mức thuế tối huệ quốc (MFN) nếu áp lực lạm phát gia tăng; hoặc đạt thỏa thuận thương mại với các đối tác; trong đó có Việt Nam.
Tiến sĩ Huỳnh Thế Du, Đại học Wisconsin Oshkosh, Mỹ nhận định, biện pháp thuế 150 ngày của Hoa Kỳ không đơn thuần mang tính kỹ thuật ngắn hạn mà là “bước đệm” để chuyển sang các cơ chế thương mại mang tính cấu trúc, khắt khe hơn.
Các công cụ có thể được triển khai tiếp theo gồm Điều khoản 232 điều tra an ninh quốc gia, Điều khoản 301 chống hành vi thương mại không công bằng và các biện pháp phòng vệ khác; cho thấy xu hướng bảo hộ và thúc đẩy sản xuất nội địa sẽ tiếp tục được đẩy mạnh.
Chính sách này tạo ra tác động phân hóa rõ rệt đối với các ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam vào Mỹ như dệt may, da giày, đồ gỗ, điện tử và thủy sản. Trong ngắn hạn, mức thuế đồng nhất 10% mở ra “cửa sổ chính sách” giúp doanh nghiệp tận dụng đẩy nhanh giao hàng, hưởng lợi từ xu hướng tăng nhập khẩu sớm.
Tuy nhiên, các ngành có biên lợi nhuận thấp sẽ chịu áp lực lớn về giá. Ngược lại, nhóm có giá trị gia tăng cao có khả năng hấp thụ chi phí tốt hơn, trong khi các ngành có chuỗi cung ứng phức tạp đối mặt rủi ro về quy tắc xuất xứ, mã HS và nguy cơ bị điều tra chống lẩn tránh thuế.
Một rủi ro đáng lưu ý là việc Mỹ gia tăng giám sát hành vi chuyển tải bất hợp pháp. Nếu không kiểm soát chặt, uy tín hàng hóa “Made in Vietnam” có thể bị ảnh hưởng, kéo theo các cuộc điều tra diện rộng. Từ kinh nghiệm quốc tế, Singapore và New Zealand đã phản ứng nhanh bằng cách cập nhật hướng dẫn hải quan, hỗ trợ pháp lý và tư vấn hợp đồng cho doanh nghiệp.
Trên cơ sở đó, Tiến sĩ Huỳnh Thế Du đề xuất một số giải pháp: Đối với cơ quan quản lý, cần sớm thiết lập cơ chế điều phối ứng phó trong 150 ngày, tăng cường kiểm soát xuất xứ, đồng thời chủ động trao đổi với phía Hoa Kỳ để nắm định hướng chính sách.
Với doanh nghiệp, cần rà soát và đàm phán lại hợp đồng, minh bạch nguồn gốc nguyên liệu, chủ động quản trị rủi ro chuỗi cung ứng và xây dựng kịch bản tài chính cho khả năng thuế tăng hoặc siết chặt hơn sau thời hạn này. Việc nhận diện đúng tính chất “tạm thời nhưng định hướng dài hạn” của chính sách, cùng phản ứng kịp thời và tuân thủ chặt chẽ quy định thương mại, sẽ là yếu tố then chốt để hàng Việt Nam duy trì thị phần và uy tín tại thị trường Mỹ.
Trước bối cảnh trên, Giáo sư Trần Ngọc Anh khuyến nghị, doanh nghiệp cần tận dụng ngay giai đoạn thuế thấp để đẩy mạnh xuất khẩu, đồng thời rà soát mã hàng và các danh mục miễn trừ. Về trung hạn, cần chuẩn bị phương án điều chỉnh giá, tái cơ cấu thị trường và ứng dụng công nghệ nhằm đáp ứng yêu cầu tuân thủ, minh bạch nguồn gốc.
“Về lâu dài, việc đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, tận dụng các hiệp định thương mại tự do và nâng tỷ lệ nội địa hóa sẽ là yếu tố then chốt giúp giảm phụ thuộc và tăng khả năng chống chịu. Trong bối cảnh thương mại toàn cầu nhiều biến động, khả năng thích ứng nhanh với chính sách mới sẽ quyết định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, hơn là mức thuế cụ thể”, Giáo sư Trần Ngọc Anh chia sẻ thêm.
Bà Cao Thị Phi Vân, Phó Giám đốc ITPC nhấn mạnh: 150 ngày áp thuế tạm thời được xác định là giai đoạn chuyển tiếp trong điều hành thương mại của Mỹ với các đối tác. Trong bối cảnh chính sách thuế mới được triển khai trên diện rộng, yêu cầu theo dõi sát diễn biến và chuẩn bị kịch bản sau 150 ngày trở nên đặc biệt quan trọng, nhất là đối với các ngành hàng có mức độ phụ thuộc lớn vào thị trường Hoa Kỳ và các chuỗi cung ứng có cấu trúc phức tạp.
Vì vậy, việc chủ động phân tích, dự báo và tổ chức ứng phó sớm trong giai đoạn này là nền tảng để doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro gián đoạn đơn hàng và hạn chế tác động bất lợi đến hoạt động sản xuất – xuất khẩu trong thời gian tới.