Hàng hóa

Giá tiêu hôm nay 22/7: Tiếp tục giảm nhẹ 500 đồng/kg

09:59 | 22/07/2021

Chia sẻ

Giá tiêu hôm nay (22/7) giảm nhẹ ở rải rác một số địa phương. Hiện tại, giá thu mua dao động trong khoảng 71.000 - 75.000 đồng/kg.

Cập nhật giá tiêu

Xem thêm: Giá tiêu hôm nay 23/7

Theo trang tintaynguyen.comgiá tiêu hôm nay điều chỉnh giảm ở một vài nơi.

Sau nhiều ngày giao dịch ổn định, tỉnh Bình Phước đã giảm 500 đồng/kg xuống còn 74.000 đồng/kg. Tương tự, giá thu mua tại Bà Rịa - Vũng Tàu cũng rời mức 75.500 đồng/kg xuống còn 75.000 đồng/kg.

Các địa phương còn lại không ghi nhận thay đổi mới so với hôm qua. Trong đó, mức giá thấp nhất là 71.000 đồng/kg có mặt tại tỉnh Lâm Đồng. Theo sau là tỉnh Đồng Nai với giá 72.000 đồng/kg.

Tỉnh/huyện (khu vực khảo sát)

Giá thu mua (Đơn vị: VNĐ/kg)

Thay đổi (Đơn vị: VNĐ/kg)

ĐẮK LẮK

 

 

— Ea H'leo

73.000

-

GIA LAI

 

 

— Chư Sê

71.000

-

ĐẮK NÔNG

 

 

— Gia Nghĩa

73.000

-

BÀ RỊA - VŨNG TÀU

 

 

— Giá trung bình

75.000

-500

BÌNH PHƯỚC

 

 

— Giá trung bình

74.000

-500

ĐỒNG NAI

 

 

— Giá trung bình

72.000

-

Theo báo cáo từ Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), tại Brazil, ngày 19/7/2021, giá hạt tiêu đen xuất khẩu ổn định so với ngày 30/6/2021, giao dịch ở mức 4.000 USD/tấn.

Tại cảng Lampung ASTA của Indonesia, ngày 19/7/2021 giá hạt tiêu đen và hạt tiêu trắng xuất khẩu tăng lần lượt 0,1% và 10,9% so với ngày 30/6/2021, lên mức 3.817 USD/tấn và 6.830 USD/tấn.

Tại cảng Kuching của Malaysia, ngày 19/7/2021, giá hạt tiêu đen xuất khẩu tăng 2,5% so với ngày 30/6/2021, lên mức 5.100 USD/tấn. Ngược lại, giá xuất khẩu hạt tiêu trắng giảm 1,1% so với ngày 30/6/2021, xuống còn 6.725 USD/tấn.

Tại cảng khu vực Thành phố Hồ Chí Minh của Việt Nam, ngày 19/7/2021, giá hạt tiêu đen loại 500g/l và 550g/l xuất khẩu giảm lần lượt 7,2% và 5,7% so với ngày 30/6/2021, xuống mức 3.800 USD/tấn và 3.900 USD/tấn. Giá hạt tiêu trắng xuất khẩu giảm 0,5% so với ngày 30/6/2021, xuống mức 5.800 USD/tấn.

Cập nhật giá cao su

Tại Sở giao dịch hàng hóa Tokyo (TOCOM), giá cao su giao kỳ hạn tháng 6/2021 ghi nhận mức 236,8 yen/kg, giảm 0,89% (tương đương 2,1 yen/kg) tại thời điểm khảo sát vào lúc 9h15 (giờ Việt Nam).

Trên Sàn giao dịch hàng hóa tương lai Thượng Hải (SHFE), giá cao su RSS3 giao kỳ hạn tháng 7/2021 được điều chỉnh xuống mức 13.000 nhân dân tệ/tấn, giảm 0,12% (tương đương 15 nhân dân tệ) so với giao dịch trước đó.

Theo số liệu thống kê của Cơ quan Hải quan Thái Lan, trong 5 tháng đầu năm 2021, Thái Lan xuất khẩu được 2,09 triệu tấn cao su (mã HS: 4001; 4002; 4003; 4005), trị giá 106,14 tỷ baht (tương đương 3,29 tỷ USD), tăng 2,6% về lượng và tăng 24,2% về trị giá so với cùng kỳ năm 2020.

Xuất khẩu cao su sang Trung Quốc chiếm 50,9% tổng lượng cao su xuất khẩu của Thái Lan trong 5 tháng đầu năm 2021, đạt 1,06 triệu tấn, trị giá 50,31 tỷ baht (tương đương với 1,56 tỷ USD), giảm 12,8% về lượng và giảm 1,3% về trị giá so với cùng kỳ năm 2020.

Về cơ cấu chủng loại xuất khẩu, Thái Lan đã xuất khẩu được 1,39 triệu tấn cao su tự nhiên (mã HS 4001), trị giá 70,34 tỷ baht (tương đương 2,18 tỷ USD), tăng 18,5% về lượng và tăng 50,8% về trị giá so với cùng kỳ năm 2020, chủ yếu xuất khẩu sang Trung Quốc, Malaysia, Nhật Bản, Mỹ và Hàn Quốc.

Trong đó, xuất khẩu sang Trung Quốc chiếm 34,6% tổng lượng cao su tự nhiên xuất khẩu của Thái Lan trong 5 tháng đầu năm 2021 với 480,83 nghìn tấn, trị giá 23,07 tỷ baht (tương đương 714,75 triệu USD), tăng 8,7% về lượng và tăng 33,2% về trị giá so với cùng kỳ năm 2020.

Cơ cấu thị trường xuất khẩu cao su tự nhiên của Thái Lan trong 5 tháng đầu năm 2021 có sự thay đổi khi tỷ trọng xuất khẩu sang các thị trường lớn là Malaysia và Nhật Bản tăng, trong khi tỷ trọng xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc lại giảm, theo báo cáo từ Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương).

Thảo Vy