Giá tiêu hôm nay 14/4: Tăng nhẹ tại khu vực Tây Nguyên, chạm mốc 140.000 đồng/kg
Cập nhật giá tiêu
- TIN LIÊN QUAN
-
Giá tiêu hôm nay 13/4: Xuất khẩu tiêu của Brazil đối mặt khó khăn do xung đột tại Trung Đông 13/04/2026 - 07:31
Tại thị trường trong nước
Ghi nhận trong sáng nay, giá tiêu tại thị trường trong nước dao động trong khoảng 138.500 – 140.000 đồng/kg, tăng 500 – 1.000 đồng/kg ở một số địa phương sản xuất trọng điểm.
Cụ thể, Đắk Nông (tỉnh Lâm Đồng) ghi nhận mức tăng 1.000 đồng/kg, đưa giá thu mua hồ tiêu lên 140.000 đồng/kg
Tại Đắk Lắk, giá tiêu tăng 500 đồng/kg và cùng được giao dịch ở mốc 140.000 đồng/kg.
Giá tiêu tại Gia Lai cũng ghi nhận mức tăng 500 đồng/kg, lên mức 139.000 đồng/kg.
Trong khi đó, Bà Rịa – Vũng Tàu (TP.HCM) và Đồng Nai vẫn duy trì ổn định ở mức 138.500 đồng/kg.
|
Thị trường (khu vực khảo sát) |
Giá thu mua ngày 14/4 (Đơn vị: VNĐ/kg) |
Thay đổi so với ngày hôm trước (Đơn vị: VNĐ/kg) |
|
Đắk Lắk |
140.000 |
+500 |
|
Gia Lai |
139.000 |
+500 |
|
Đắk Nông |
140.000 |
+1.000 |
|
Bà Rịa – Vũng Tàu |
138.500 |
- |
|
Bình Phước |
138.500 |
- |
|
Đồng Nai |
138.500 |
- |
Trên thị trường thế giới
Kết thúc phiên giao dịch gần nhất, theo dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá tiêu đen của Indonesia được niêm yết ở mức 7.070 USD/tấn, giảm nhẹ 4 USD/tấn so với ngày hôm trước.
Tại các quốc gia sản xuất hàng đầu khác, giá nhìn chung không đổi. Hiện tiêu đen Brazil ASTA 570 có giá 6.150 USD/tấn, trong tiêu đen Malaysia đạt 9.300 USD/tấn.
Giá tiêu đen xuất khẩu của Việt Nam cũng duy trì ổn định ở mức 6.100 – 6.200 USD/tấn đối với các loại 500 g/l và 550 g/l.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu đen thế giới |
|
|
Ngày 14/4 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu đen Lampung (Indonesia) |
7.070 |
-0,06 |
|
Tiêu đen Brazil ASTA 570 |
6.150 |
- |
|
Tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA |
9.300 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
6.100 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
6.200 |
- |
Cùng thời điểm khảo sát, giá tiêu trắng Muntok của Indonesia giảm nhẹ 5 USD/tấn so với ngày hôm trước, xuống còn 9.315 USD/tấn.
Tại Việt Nam và Malaysia, báo giá tiêu trắng vẫn đi ngang ở mức 9.000 USD/tấn và 12.200 USD/tấn.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu trắng thế giới |
|
|
Ngày 14/4 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu trắng Muntok Indonesia |
9.315 |
-0,05 |
|
Tiêu trắng Malaysia ASTA |
12.200 |
- |
|
Tiêu trắng Việt Nam |
9.000 |
- |
Cập nhật thông tin hồ tiêu
Theo Báo Thanh Niên, Mỹ và Trung Quốc là 2 thị trường tiêu thụ hồ tiêu lớn nhất Việt Nam trong 3 tháng qua. Nhu cầu tiêu thụ tăng và nguồn cung thấp giữ giá tiêu duy trì mức cao dù mặt hàng này đang trong vụ thu hoạch rộ.
Tại thị trường nội địa, giá tiêu đang dao động quanh mốc 140.000 đồng/kg, không có nhiều biến động so với giai đoạn cuối tháng 3 dù vụ thu hoạch tiêu đang diễn ra ở các tỉnh miền Đông và khu vực Tây nguyên. Dự kiến, vụ thu hoạch tiêu của Việt Nam sẽ kết thúc vào cuối tháng 4.
"Giá tiêu giảm nhẹ so với mức đỉnh 150.000 đồng/kg do nguồn cung tăng từ vụ thu hoạch mới, trong khi nhu cầu chưa có sự tăng tương ứng. Tuy nhiên, với nguồn cung không dồi dào nên giá tiêu dự kiến sẽ vẫn duy trì mức cao trong trung và dài hạn", báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhận định.
Báo cáo của cơ quan này cho biết, trong 3 tháng đầu năm nay, hoạt động xuất khẩu hạt tiêu thuận lợi. Riêng trong tháng 3 đạt tới 29.000 tấn và kim ngạch 186 triệu USD. Lũy kế 3 tháng đầu năm, tổng khối lượng đạt gần 65.000 tấn, tăng đến 37% so với cùng kỳ năm trước; kim ngạch đạt gần 418 triệu USD, tăng 29% về giá trị. Giá hạt tiêu xuất khẩu bình quân 3 tháng đầu năm 2026 ước đạt 6.465 USD/tấn, giảm 6% so với cùng kỳ năm 2025.
Theo Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam (VPSA), Mỹ tiếp tục là thị trường lớn nhất của Việt Nam trong quý 1 với khối lượng đạt 16.859 tấn, tăng 64% so với cùng kỳ và chiếm thị phần trên 25%. Đặc biệt là Trung Quốc với 8.563 tấn, tăng tới 321% trở thành thị trường lớn thứ hai. Tiếp theo là UAE đạt 3.182 tấn, tăng 15% bên cạnh là Philippines đạt 2.383 tấn, tăng 49%.
Ngoài thị trường Mỹ, khu vực châu Á tiếp tục là động lực tăng trưởng chính, chiếm 46% tổng lượng xuất khẩu và châu Âu chiếm 20%.
Bên cạnh hạt tiêu, Việt Nam đã xuất khẩu được 22.254 tấn quế với kim ngạch đạt 58 triệu USD; so với cùng kỳ năm 2025 tăng gần 11% về lượng và 6,1% về giá trị. Ấn Độ, Mỹ và Bangladesh là 3 thị trường xuất khẩu chính của Quế Việt Nam.
