Hàng hóa

31 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên một tỉ USD

15:16 | 29/11/2020

Chia sẻ

Tính chung 11 tháng năm 2020, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước tính đạt 254,6 tỉ USD, tăng 5,3% so với cùng kì năm trước. Trong đó, có 31 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên một tỉ USD.

Báo cáo tình hình kinh tế xã hội tháng 11 và 11 tháng đầu năm 2020 của Tổng cục Thống kê cho thấy, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa 11 tháng ước tính đạt 489,1 tỉ USD, tăng 3,5% so với cùng năm trước, trong đó xuất khẩu đạt 254,6 tỉ USD, tăng 5,3%; nhập khẩu đạt 234,5 tỉ USD, tăng 1,5%.

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa thực hiện tháng 10/2020 đạt 27,26 tỉ USD, cao hơn 559 triệu USD so với số ước tính. Trong đó điện tử, máy tính và linh kiện cao hơn 248 triệu USD; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng cao hơn 208 triệu USD; điện thoại và linh kiện cao hơn 149 triệu USD.

31 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên một tỉ USD - Ảnh 1.

Ngành thủy sản xuất khẩu đạt 7,7 tỉ USD, giảm 0,9% so với cùng kì. (Ảnh: Khải An).

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 11/2020 ước tính đạt 24,8 tỉ USD, giảm 9% so với tháng trước. Cụ thể, khu vực kinh tế trong nước đạt 7 tỉ USD, giảm 2,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 17,8 tỉ USD, giảm 11,3%.

So với cùng năm trước, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 11 tăng 8,8%. Trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 8,2%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 9%.

Tính chung 11 tháng năm 2020, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước tính đạt 254,6 tỉ USD, tăng 5,3% so với cùng năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 73 tỉ USD, tăng 1,6%, chiếm 28,7% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 181,6 tỉ USD, tăng 6,9%, chiếm 71,3%.

Theo Tổng cục Thống kê, có 31 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên một tỉ USD, chiếm 92% tổng kim ngạch xuất khẩu. Đặc biệt, có 6 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỉ USD, chiếm 64,3%.

Cụ thể, điện thoại và linh kiện có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất, đạt 46,9 tỉ USD, chiếm 18,4% tổng kim ngạch xuất khẩu, giảm 3,4% so với cùng kì năm trước.

Mặt hàng điện tử, máy tính và linh kiện đạt 40,2 tỉ USD, tăng 24,3%; hàng dệt may đạt 26,7 tỉ USD, giảm 10,5%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 23,9 tỉ USD, tăng 44,5%; giày dép đạt 14,9 tỉ USD, giảm 9,8%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 10,9 tỉ USD, tăng 14,1%; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 8,1 tỉ USD, tăng 4,1%; thủy sản đạt 7,7 tỉ USD, giảm 0,9%.

Bên cạnh đó, kim ngạch xuất khẩu 11 tháng của hầu hết các mặt hàng nông sản đều giảm so với cùng kì năm trước.

Cụ thể, rau quả đạt ba tỉ USD, giảm 11,7%; hạt điều đạt 2,9 tỉ USD, giảm 1,7% (lượng tăng 13,2%); cà phê đạt 2,5 tỉ USD, giảm 2,9% (lượng giảm 3,9%); cao su đạt 2 tỉ USD, giảm 1,4% (lượng tăng 0,4%); hạt tiêu đạt 596 triệu USD, giảm 11,5% (lượng giảm 1,8%); chè đạt 201 triệu USD, giảm 5,3% (lượng tăng 1,2%). Riêng sản phẩm gạo đạt 2,8 tỉ USD, tăng 10,4% (lượng giảm 2,2%).

Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu 11 tháng, nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản ước tính đạt 138 tỉ USD, tăng 9,2% so với cùng năm trước, chiếm 54,2% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa (tăng 1,9 điểm phần trăm so với cùng năm trước).

Nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp ước tính đạt 90,2 tỉ USD, tăng 1,5% và chiếm 35,4% (giảm 1,3 điểm phần trăm). Nhóm hàng nông, lâm sản đạt 18,7 tỉ USD, giảm 0,1% và chiếm 7,3% (giảm 0,4 điểm phần trăm). Nhóm hàng thủy sản đạt 7,7 tỉ USD, giảm 0,9% và chiếm 3% (giảm 0,2 điểm phần trăm).

Về thị trường xuất khẩu hàng hóa, Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam trong 11 tháng với kim ngạch đạt 69,9 tỉ USD, tăng 25,7% so với cùng năm trước.

Tiếp đến là Trung Quốc đạt 43,1 tỉ USD, tăng 16%. Thị trường EU đạt 32,2 tỉ USD, giảm 2,4%. Thị trường ASEAN đạt 20,9 tỉ USD, giảm 10,6%. Hàn Quốc đạt 17,7 tỉ USD, giảm 2,7%. Nhật Bản đạt 17,3 tỉ USD, giảm 6,5%.

Khải An