Giá lúa gạo hôm nay 20/8: Xu hướng giảm vẫn tiếp diễn
Giá lúa gạo hôm nay
- TIN LIÊN QUAN
-
Giá lúa gạo hôm nay 19/8: Gạo nguyên liệu tiếp tục điều chỉnh giảm 19/08/2026 - 14:05
Khảo sát cho thấy, giá lúa gạo hôm nay tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục giảm nhẹ so với ngày hôm trước.
Cụ thể, giá gạo nguyên liệu IR 50404 giảm 50 đồng/kg, được xuống còn 9.700 – 9.750 đồng/kg. Tương tự, giá gạo nguyên liệu CL 555 giảm 50 đồng/kg, ở mức 9.800 – 9.850 đồng/kg.
Đối với nhóm phụ phẩm, giá tấm thơm cũng giảm 50 đồng/kg, xuống còn 8.700 – 8.800 đồng/kg. Trong khi đó, giá cám giữ ổn định ở mức 7.450 – 7.550 đồng/kg.
Với mặt hàng lúa, theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa tươi IR 50404 tăng 200 đồng/kg so với ngày hôm trước, lên mức 6.400 - 6.500 đồng/kg. Ngược lại, giá lúa OM 34 (tươi) giảm 100 đồng/kg dao động mốc 6.100 - 6.200 đồng/kg; giá lúa OM 5451 (tươi) giảm 100 đồng/kg dao động mốc 6.600 - 6.700 đồng/kg. Ở các chủng loại khác, lúa tươi Đài Thơm 8 dao động ở mốc 6.900 - 7.000 đồng/kg; giá lúa tươi OM 18 từ 6.800 - 7.000 đồng/kg.
| Chủng loại | ĐVT | Giá lúa gạo | Tăng (+), giảm (-) so với hôm trước |
| - Nguyên liệu IR 504 | kg | 9.700 – 9.750 | -50 |
| - Nguyên liệu CL 555 | kg | 9.800 – 9.850 | -50 |
| - Tấm thơm | kg | 8.700 – 8.800 | -50 |
| - Cám | kg | 7.350 – 7.550 | - |
| - Lúa tươi OM 18 | kg | 6.800 – 7.000 | - |
| - Lúa tươi Đài Thơm 8 | kg | 6.900 – 7.000 | - |
| - Lúa tươi IR 504 | kg | 6.600 – 6.700 | +200 |
| - Lúa tươi OM 5451 | kg | 6.600 – 6.700 | -100 |
| - Lúa tươi OM 34 | kg | 6.100 – 6.200 | -100 |
Bảng giá gạo hôm nay 20/8 tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. (Nguồn: Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang và Luagaoviet.com)
Giá gạo xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), gạo trắng 5% tấm của Việt Nam vẫn duy trì ở mức 438–442 USD/tấn, gạo Jasmine trong khoảng 538–542 USD/tấn, còn gạo thơm 5% tấm có giá 490–500 USD/tấn.
Tại các nước xuất khẩu lớn trong khu vực, gạo 5% tấm của Thái Lan đang có giá 450–454 USD/tấn. Sản phẩm cùng loại của Pakistan có mức giá thấp hơn, dao động 401–405 USD/tấn.
Ấn Độ vẫn là nước có lợi thế rõ rệt về giá, khi gạo trắng 5% tấm chỉ ở mức 360–364 USD/tấn. Giá gạo đồ 5% tấm của Ấn Độ cũng khá thấp, khoảng 366–370 USD/tấn, qua đó tạo sức ép cạnh tranh đáng kể trên thị trường quốc tế.
Báo Vietnamnet đưa tin, theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tháng 7/2026, nước ta thu về gần 253 triệu USD từ xuất khẩu gạo. Tính chung 7 tháng năm nay, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này đạt gần 2,64 tỷ USD, giảm 6,7% so với cùng kỳ năm ngoái.
- TIN LIÊN QUAN
-
Xuất khẩu cà phê tăng vọt, giá vẫn đối mặt với nhiều sức ép 18/08/2026 - 08:55
Việt Nam hiện là một trong những quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, tuy nhiên các doanh nghiệp trong nước vẫn nhập khẩu lượng gạo trị giá hàng trăm triệu USD mỗi năm.
Cụ thể, trong tháng 7, các doanh nghiệp nước ta chi gần 108 triệu USD để nhập khẩu gạo các loại. Đây là mức nhập khẩu cao thứ ba trong 7 tháng, chỉ sau tháng 3 (267,8 triệu USD) và tháng 4 (159,8 triệu USD).
Lũy kế 7 tháng năm 2026, kim ngạch nhập khẩu gạo lên tới 800 triệu USD. Dù vậy, so với mức 1,07 tỷ USD của cùng kỳ năm 2025, kim ngạch nhập khẩu gạo 7 tháng năm nay giảm 25,2%.
Liên quan đến vấn đề nhập khẩu gạo, lãnh đạo một doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu gạo cho biết, việc nhập khẩu mặt hàng này không phải do Việt Nam thiếu hụt nguồn cung. 7 tháng năm 2026, Việt Nam xuất khẩu gần 5,5 triệu tấn gạo.
Theo vị này, các doanh nghiệp nhập khẩu gạo nhằm phục vụ nhu cầu chế biến thực phẩm trong nước, đồng thời bảo đảm nguồn cung cho xuất khẩu trong những giai đoạn giáp vụ thu hoạch.
Thực tế cho thấy, những năm gần đây, cơ cấu sản xuất gạo của Việt Nam có xu hướng chuyển sang các phân khúc chất lượng cao, trong đó gạo thơm chiếm tỷ trọng đáng kể để đáp ứng nhu cầu tại các thị trường xuất khẩu khó tính.
Trong khi đó, các cơ sở sản xuất bún, phở, bánh tráng và nhiều sản phẩm chế biến từ gạo trong nước lại cần những loại gạo có hàm lượng tinh bột cao, giá thành thấp. Vì vậy, doanh nghiệp tìm nguồn gạo phù hợp từ các quốc gia khác để nhập khẩu.
Ngoài ra, việc Việt Nam vừa xuất khẩu với sản lượng lớn, vừa nhập khẩu một lượng gạo đáng kể cũng cho thấy sự linh hoạt của doanh nghiệp trong cân đối nguồn cung, đáp ứng các đơn hàng lớn và duy trì vị thế của gạo Việt Nam trên thị trường thế giới.

TRỰC TIẾP