Sếp Aeon Việt Nam kể về 100 năm bán lẻ Nhật Bản, chỉ ra một điểm làm suy yếu cả ngành công nghiệp
Chiều 4/12 tại Hà Nội, trong sự kiện do Bộ Công Thương tổ chức, ông Satoshi Nishikawa - Giám đốc cấp cao Đại diện Khu vực phía Bắc & Văn phòng Hà Nội của Aeon Việt Nam, đã chia sẻ bài học kinh nghiệm về 100 năm lịch sử bán lẻ Nhật Bản.
Bán lẻ Nhật Bản đã trải qua 4 giai đoạn biến đổi để có thể trở nên mạnh mẽ như ngày hôm nay. Đầu tiên là cuộc cách mạng thay đổi phương thức bán hàng. Chỉ cách đây 100 năm, các cửa hàng ở Nhật Bản hoạt động theo mô hình bán hàng trực tiếp. Khách hàng sẽ nhờ nhân viên lấy hàng từ kệ, thương lượng giá cả và mua hàng.
Sau đó, điều này đã phát triển thành một phong cách mà khách hàng có thể tự do đi lại trong cửa hàng với một giỏ hàng, xem giá, chọn các mặt hàng khác nhau và cuối cùng thanh toán tất cả cùng một lúc. Đây là sự ra đời của siêu thị.
Các siêu thị, trong cuộc cạnh tranh để tồn tại, đã tinh giản hoạt động của mình và phát triển thành các cửa hàng tổng hợp và chuỗi cửa hàng.
Aeon Hà Đông (Hà Nội). (Ảnh: Đức Huy).
Tuy nhiên, sau đó các hình thức bán lẻ khác nhau xuất hiện, chẳng hạn như cửa hàng tổng hợp (GMS), siêu thị thực phẩm, cửa hàng chuyên dụng cho điện tử và thể thao, cửa hàng tiện lợi và cửa hàng giảm giá.
Sự cạnh tranh giữa các loại hình kinh doanh khác nhau đòi hỏi mỗi loại phải phát triển các đặc điểm độc đáo và cải thiện hiệu quả, đảm bảo rằng chỉ những công ty được khách hàng ủng hộ mới tồn tại. Đây là giai đoạn thứ hai ngành bán lẻ Nhật Bản thay đổi về hình thức kinh doanh.
Thứ ba là giai đoạn gia nhập của các nhà bán lẻ toàn cầu. “Vào những năm 1990, chúng tôi đã đối mặt với sự cạnh tranh tự do toàn cầu. Nhật Bản đã phải đối mặt với sự cạnh tranh từ các công ty nước ngoài, nhưng hầu hết trong số họ cuối cùng đã rút lui. Công ty nước ngoài duy nhất còn lại là Costco, với mô hình bán buôn độc đáo mà Nhật Bản chưa từng có”, ông Satoshi Nishikawa nói.
Cuối cùng là sự trỗi dậy của các cửa hàng tiện lợi. Theo lãnh đạo Aeon, thời điểm đó Nhật Bản giống như Việt Nam ngày nay, bắt đầu có các cửa hàng tiện lợi - trở thành một mô hình kinh doanh độc đáo và được ưu chuộng.
“Như một sự bổ sung cho các cửa hàng lớn ở ngoại ô, các cửa hàng tiện lợi đã phát triển thành một mô hình kinh doanh đáp ứng sự tiện lợi của khách hàng với khái niệm gần và tiện lợi”, vị Giám đốc nói thêm.
Tương ứng với các giai đoạn phát triển của ngành bán lẻ, Nhật Bản cũng đã trải qua 4 lần thay đổi các quy định trong ngành để phù hợp với bối cảnh thực tế.
Đầu tiên là Luật Cửa hàng Bách hóa (1956), nhằm hạn chế sự mở rộng của các cửa hàng bách hóa, tập trung vào việc bảo vệ các khu phố mua sắm nhưng lại hạn chế sự lựa chọn của người tiêu dùng
Thứ hai, Luật Cửa hàng Bán lẻ Quy mô Lớn (1974). Theo ông Satoshi Nishikawa, đây là một ví dụ về sự thay đổi gây ra nhiều bất lợi hơn là lợi ích cho người tiêu dùng. Đó là lý do tại sao nó bị bãi bỏ vào năm 2000.
Tiếp đến vào những năm 2000, Nhật Bản đã bị cuốn vào làn sóng toàn cầu hóa, mở ra một kỷ nguyên bãi bỏ quy định đáng kể. Các quy định trước đây đã bị loại bỏ và các doanh nghiệp phải thực hiện các biện pháp trước để giải quyết các tác động về môi trường và giao thông.
Đây trở thành thời điểm mà các doanh nghiệp phải nỗ lực để tồn tại trong sự cạnh tranh khốc liệt hơn, và những doanh nghiệp không đủ mạnh sẽ bị loại bỏ.
Ngày nay, với tỷ lệ sinh giảm và dân số già đi, cùng với việc thúc đẩy hiệu quả hành chính, khái niệm về các thành phố nhỏ gọn đang được xem xét tích cực ở nhiều khu vực. Đồng thời, sự phát triển của thương mại điện tử đã rút ngắn khoảng cách di chuyển của mọi người một lần nữa.
Từ những quy định của Nhật Bản, đại diện Aeon Việt Nam rút ra được bài học là “các quy định bảo vệ các doanh nghiệp nhỏ và vừa trước các cửa hàng lớn không đáp ứng được kỳ vọng của người tiêu dùng”. Ngoài ra, điều này cuối cùng cản trở nỗ lực phát triển và làm suy yếu ngành công nghiệp.
“Ngành bán lẻ là một ngành công nghiệp phục vụ cuộc sống và là ngành dịch vụ khách hàng, phản ứng với những thay đổi trong lối sống của con người. Với sự gia tăng của đạo đức trong thương mại, các công ty trung thực và chân thành sẽ giành được lòng tin và phát triển. Ngược lại, điều này sẽ dẫn đến sự “loại trừ” của chính họ”, ông Satoshi Nishikawa kết luận.
