|
 Thuật ngữ VietnamBiz
Nhà đất

Hà Nội quy hoạch những gì cho tầm nhìn 100 năm

07:44 | 31/01/2026
Chia sẻ
Quy hoạch Thủ đô đến 2100 định hình Hà Nội đa cực, đa tầng, ưu tiên chất lượng sống và liên kết vùng với mục tiêu GRDP trên 11%/năm giai đoạn 2026-2045.

HĐND TP Hà Nội mới đây đã thông qua Nghị quyết về báo cáo, đề án thực hiện Quy hoạch Thủ đô với tầm nhìn 100 năm. Điểm đột phá xuyên suốt trong quy hoạch tổng thể này là xác lập tầm nhìn phát triển đến năm 2100, vượt ra khỏi khuôn khổ quy hoạch trung hạn hay nhiệm kỳ.

Hà Nội nhìn nhận việc rà soát và điều chỉnh quy hoạch hiện nay là yêu cầu cấp thiết để giải quyết những điểm nghẽn như tình trạng úng ngập, ô nhiễm môi trường, tắc nghẽn giao thông và sự phân bổ dân cư không đồng đều. Thành phố phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GRDP trên 11% mỗi năm trong giai đoạn từ 2026 đến 2045 với kỳ vọng GRDP bình quân đầu người sẽ đạt mức 100.000 USD vào năm 2065.

Để đạt được những chỉ số này, thành phố "cần một không gian phát triển đủ rộng và một lộ trình dài hạn tương xứng với vị thế của một đô thị phát triển có thu nhập cao trong tương lai". Theo UBND TP Hà Nội, mô hình phát triển đô thị Thủ đô giai đoạn trước dựa nhiều vào mở rộng không gian và gia tăng dân số cơ học. Khu vực nội đô có mật độ dân cư quá cao, hạ tầng kỹ thuật và xã hội thường xuyên quá tải.

Bên cạnh đó, liên kết vùng còn hạn chế, chưa tương xứng với vai trò trung tâm của Hà Nội trong Vùng Thủ đô. Các địa phương lân cận có mối quan hệ phụ thuộc, song vẫn cạnh tranh thu hút đầu tư với Hà Nội. Vùng Thủ đô thiếu một khung quy hoạch vùng thống nhất khiến phân bố dân cư, công nghiệp, logistics và hạ tầng giao thông chưa tối ưu, làm gia tăng áp lực "dồn về" Thủ đô.

So với các quy hoạch Thủ đô trước đây, điểm cốt lõi trong tư duy đổi mới đột phá của quy hoạch lần này thể hiện qua sự thay đổi căn bản về tầm nhìn, triết lý phát triển và cấu trúc không gian đô thị. Quy hoạch chuyển từ tầm nhìn trung hạn (đến năm 2045 hoặc 2065) sang tầm nhìn dài hạn 100 năm và xa hơn (hướng tới năm 2100).

Quy hoạch không chỉ dựa trên chỉ tiêu vật chất, thành phố chuyển sang lấy "Sự hài lòng, hạnh phúc và chất lượng sống của người dân" làm trung tâm. Các chỉ tiêu về xã hội, chỉ số hạnh phúc, tuổi thọ trung bình và môi trường sống xanh được đặt lên hàng đầu nhằm xây dựng một Thủ đô đáng sống.

Nhà hát lớn Hà Nội. Ảnh: Giang Huy

Chùm đô thị hướng tâm

Quy hoạch đặt trọng tâm vào việc "mở" Thủ đô theo nghĩa rộng hơn mở rộng địa giới hay kéo giãn đô thị đơn thuần. Hà Nội được cấu trúc trong mô hình "Chùm đô thị hướng tâm", coi Thủ đô là đô thị trung tâm hạt nhân, đầu não, vừa kết nối vùng vừa nối các hành lang liên vùng quốc tế. Các đô thị thuộc các tỉnh xung quanh đóng vai trò vệ tinh và đối trọng, được phân vai chức năng rõ ràng để chia sẻ áp lực dân cư, dịch vụ và hạ tầng.

Theo định hướng này, phía Bắc với tỉnh Thái Nguyên được xác lập vai trò trung tâm y tế, giáo dục đào tạo chất lượng cao của vùng Trung du miền núi phía Bắc, qua đó chia sẻ áp lực khám chữa bệnh và đào tạo cho Hà Nội.

Phía Đông Bắc, tỉnh Bắc Ninh được định vị là chuỗi đô thị công nghiệp - dịch vụ liên hoàn, cung cấp không gian sản xuất, logistics và nhà ở cho lực lượng lao động, chuyên gia làm việc ở vành đai công nghiệp phía Bắc và phía Đông Hà Nội.

Phía Đông Nam, tỉnh Hưng Yên phát triển chuỗi đô thị sinh thái, thương mại, dịch vụ cao cấp như Ecopark, Ocean Park 2-3, kết nối liền mạch với khu vực Gia Lâm qua sông Bắc Hưng Hải, hình thành không gian sống chất lượng cao để giảm tải tăng dân cơ học cho nội đô.

Phía Nam, tỉnh Ninh Bình (bao gồm Hà Nam cũ) tạo chuỗi đô thị - công nghiệp liên hoàn và trung tâm giáo dục, dịch vụ cửa ngõ phía Nam, hướng tới giảm tải trực tiếp cho các cơ sở y tế tuyến cuối tại Hà Nội.

Phát triển đa cực, đa trung tâm

Trong nội tại đô thị, quy hoạch lựa chọn mô hình "Đa cực, Đa trung tâm, Đa tầng, Đa lớp", tối ưu hóa không gian theo chiều ngang, chiều cao và cả không gian ngầm. Hà Nội được định hướng phát triển mà không phá vỡ di sản, vừa bảo tồn các giá trị văn hóa - kiến trúc lịch sử, vừa tạo dư địa cho đổi mới sáng tạo và các mô hình đô thị thông minh, xanh - sạch - đẹp, tăng khả năng ứng phó biến đổi khí hậu.

Quy hoạch xác định 9 cực tăng trưởng chiến lược làm bộ khung phát triển không gian và kinh tế. Cực Trung tâm hữu ngạn sông Hồng, gồm các khu vực Ba Đình, Hoàn Kiếm, Tây Hồ, được xác định là trung tâm hành chính - chính trị - văn hóa, định hướng mở rộng và hình thành "Đô thị Olympic" quốc gia.

Cực phía Bắc (Đông Anh - Mê Linh - Sóc Sơn) được phát triển thành cực hội nhập quốc tế, với đô thị dịch vụ - logistics gắn sân bay quốc tế Nội Bài và trung tâm công nghiệp công nghệ cao. Cực phía Đông (Gia Lâm - Long Biên) là cửa ngõ thương mại - dịch vụ, phát triển các khu ICD và trung tâm logistics liên vùng gắn với hành lang Quốc lộ 5 và cao tốc Hà Nội - Hải Phòng.

Phía Nam tổ chức theo 2 cực song hành. Cực Nam (Thường Tín - Phú Xuyên) tập trung công nghiệp - logistics, công nghệ cao và nông nghiệp công nghệ cao, kết nối sân bay thứ 2 phía Nam Hà Nội, tuyến đường sắt tốc độ cao và cảng sông.

Cực Nam sinh thái (Vân Đình - Đại Nghĩa) phát triển đô thị sinh thái, du lịch và nông nghiệp hữu cơ, gắn với di sản, tín ngưỡng và môi trường sông Hồng. Phía Tây Nam (Xuân Mai - Chương Mỹ) được định hướng là đô thị giáo dục, đào tạo, y tế gắn nghỉ dưỡng sinh thái, hỗ trợ giãn dân.

Phía Tây (Hòa Lạc) trở thành trung tâm khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và giáo dục, lấy Khu Công nghệ cao Hòa Lạc và Đại học Quốc gia làm hạt nhân. Phía Tây Bắc (Sơn Tây - Ba Vì) tập trung bảo tồn văn hóa - di sản, phát triển giáo dục, y tế, du lịch sinh thái và gắn với nhiệm vụ an ninh quốc phòng.

Bên cạnh các cực tăng trưởng, quy hoạch định hình 9 trung tâm lớn theo tính chất và chức năng, nhằm "đặt đúng chỗ" các dòng dịch vụ, đầu tư và dân cư. Trục Nam sông Hồng được định hướng là trung tâm chính trị - hành chính quốc gia và của TP, trong khi Bắc sông Hồng là trung tâm kinh tế - dịch vụ và hội nhập kinh tế quốc tế. Trung tâm phía Đông tập trung thương mại dịch vụ và giáo dục đào tạo, còn trung tâm Olympic phát triển thể thao.

Các trung tâm còn lại được phân bổ theo các hướng phát triển: Phú Xuyên về logistics và y tế; Vân Đình - Đại Nghĩa về di sản - văn hóa tâm linh; Xuân Mai về giáo dục đào tạo gắn sinh thái cảnh quan; Hòa Lạc về khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo; Sơn Tây về văn hóa di sản.

Quy hoạch cũng đề cập 9 trục không gian và các hành lang kinh tế đô thị bám theo hệ thống giao thông huyết mạch, nhằm hình thành "xương sống" cho cấu trúc đa cực.

Vành đai 3 trên cao và lối vào cao tốc Pháp Vân - Cầu Giẽ. Ảnh: Phạm Chiểu

Vành đai kết nối cực tăng trưởng

Quy hoạch đặt giao thông vào vai trò dẫn dắt không gian phát triển, với hệ thống vành đai và trục hướng tâm vừa kết nối các cực tăng trưởng, vừa tổ chức lại đô thị theo lớp. Vành đai 1, 2 và 2.5 thuộc đô thị trung tâm và nội đô lịch sử, ưu tiên bảo tồn và phát huy di sản. Vành đai 3 được xác định là không gian tái cấu trúc đô thị, phát triển theo mô hình nén và TOD tại các nút giao lớn; đồng thời là ranh giới kiểm soát hạn chế phương tiện cá nhân vào khu vực nội đô.

Vành đai 3.5 được định hướng hình thành chuỗi đô thị mới hiện đại, đồng bộ, phát triển các trung tâm dịch vụ, thương mại, y tế, giáo dục cấp vùng để "hút dân" ra khỏi vành đai 3. Vành đai 4 được xác định là vành đai kinh tế - đô thị động lực, là tuyến kết nối vùng giữa Hà Nội với Hưng Yên, Bắc Ninh. Quy hoạch cũng nêu các tuyến vành đai mới quy mô lớn như Vành đai 4.5 dài khoảng 75 km, rộng 100 m và Vành đai 5 dài khoảng 105 km.

Trên các trục hướng tâm, thành phố định hướng nâng cấp cao tốc Tây Hồ - Ba Vì dài 32 km, rộng 100 m và Hà Đông - Xuân Mai dài 25 km, rộng 60-70 m. Thành phố dành quỹ đất triển khai đại lộ cảnh quan sông Hồng dài 80 km, rộng 54-80 m và hàng chục cầu mới qua sông Hồng, sông Đà để mở rộng không gian đô thị.

Đi cùng "khung cứng" giao thông là "khung mềm" không gian mở. Quy hoạch tổ chức cấu trúc đai xanh - hành lang xanh - nêm xanh, đặt mục tiêu đến 2045 diện tích đất đô thị tăng khoảng 45-50% nhưng vẫn giữ vững tỷ lệ đất rừng, hồ. Phần quỹ đất giảm mật độ xây dựng được ưu tiên cho công viên, cây xanh, mặt nước và không gian công cộng, hướng tới nâng chất lượng không khí và sức chống chịu đô thị trước biến đổi khí hậu.

Phối cảnh trục cảnh quan, đô thị ven sông Hồng trong tương lai. Ảnh: UBND TP Hà Nội

 

Trục sông Hồng và hành lang 150 km theo dòng chảy

Quy hoạch coi các dòng sông là trục cảnh quan và cũng là "xương sống mềm" của cấu trúc đô thị, nơi thành phố muốn giải đồng thời nhiều bài toán: trị thủy, môi trường nước, không gian công cộng, vận tải thủy và cả kinh tế du lịch. Hà Nội dự kiến mở rộng phạm vi nghiên cứu tổng thể toàn diện khoảng 150 km, nối các điểm không gian - di sản - sinh thái từ sông Đà - Khánh Thượng, Ba Vì - Đền Hạ - Đá Chông - di tích K9 đến sông Hồng - Trung Hà - Đường Lâm - thành cổ Sơn Tây - trục đại lộ cảnh quan sông Hồng - Thăng Long Hà Nội - Văn Giang - Hưng Yên - Phố Hiến.

Trong chuỗi này, trục đại lộ cảnh quan sông Hồng được coi là điểm nhấn về tổ chức không gian dọc sông. Tuyến từ cầu Hồng Hà đến cầu Mễ Sở được nghiên cứu phát triển kéo dài từ cầu Mễ Sở đến hết ranh giới phía Nam thành phố, mở ra khả năng liên kết hai bên sông theo chuỗi vùng đô thị lớn. Trục này dự kiến kết nối các khu vực Thường Tín, đô thị văn hóa thể thao Olympic, đô thị Phú Xuyên và liên thông sang chuỗi đô thị Văn Giang - Phố Hiến - Hưng Yên, qua đó hình thành hành lang di sản - du lịch - kinh tế dọc sông Hồng.

Một lớp hạ tầng quan trọng đi kèm là hệ thống các cầu bắc qua sông theo các trục vành đai liên kết, tạo nút kết nối ngang giữa hai bờ, giúp không gian dọc sông không bị tách rời mà trở thành một cấu trúc đô thị - dịch vụ liên hoàn.

Phát triển đô thị ngầm và metro

Quy hoạch coi không gian ngầm là một "mặt bằng thứ 2", nhằm giải quyết cùng lúc 3 áp lực lớn của Hà Nội: thiếu quỹ đất, ngập úng đô thị và quá tải giao thông. Theo định hướng, hệ thống công trình ngầm sẽ không chỉ là các tuyến metro, mà gồm cả đường hầm, bể chứa nước ngầm và trạm bơm, được bố trí gắn với các trục vành đai và hướng tâm xuyên tâm để thu gom, điều tiết nước mưa theo quy mô vùng, thay vì xử lý manh mún theo từng điểm ngập.

Thành phố định hướng nghiên cứu hệ thống "bể ngầm khổng lồ" chứa nước mưa kết hợp giao thông, hướng tới cơ chế vừa trữ nước khi mưa lớn, vừa điều phối thoát nước khi mưa kéo dài. Đi kèm là các trạm bơm công suất lớn để chủ động bơm nước trong tình huống khẩn cấp hoặc tại các khu vực trũng thấp thường xuyên ngập úng. Cấu trúc này giúp hạ tầng chống ngập không đứng riêng lẻ, mà được "đặt" vào đúng nơi đô thị có thể tận dụng không gian ngầm, đồng thời giảm xung đột quỹ đất trên mặt đất.

Trong tổ chức giao thông, mạng lưới đường sắt đô thị được quy hoạch gồm 14 tuyến với tổng chiều dài hơn 1.000 km, giữ vai trò trụ cột của vận tải công cộng đa phương thức. Điểm nhấn ở đây là cách Hà Nội gắn metro với tái cấu trúc đô thị theo mô hình TOD: phát triển không gian quanh nhà ga, tổ chức các bãi đỗ xe ngầm, hạ tầng thương mại ngầm và các không gian kết nối đi bộ để giảm nhu cầu dùng xe cá nhân trong lõi đô thị.

Quy hoạch cũng đặt mục tiêu khai thác tối đa không gian ngầm tại các điểm tái thiết đô thị như khu cải tạo chung cư cũ, nơi có thể đồng thời hình thành hệ thống giao thông ngầm, trung tâm thương mại ngầm kết nối và các hạ tầng kỹ thuật đô thị (thoát nước, bể chứa) theo một cấu trúc đa năng.

Giãn dân hơn 860.000 người, di dời trụ sở công

Giãn dân và tái định cư được xác định là chiến lược then chốt để giải quyết phân bổ dân cư không đồng đều và giảm tải áp lực cho nội đô lịch sử. Giai đoạn 2026-2035, Hà Nội dự kiến di dời khoảng 200.000 người ở dọc sông Hồng, 200.000 người ở khu vực hồ Tây - phụ cận và 42.000 người trên một số tuyến phố trong phạm vi Vành đai 3.

Giai đoạn 2036-2045, tiếp tục di dời 26.730 người ở khu phố cổ, 23.000 người ở khu phố cũ và khoảng 370.000 người còn lại trong nội đô để phục vụ tái cấu trúc. Tổng cộng hơn 860.000 người được dự kiến bố trí tái định cư từ nay đến 2045.

Người dân trong diện di dời được tái định cư một phần tại chỗ, phần còn lại tại các khu đô thị mới thuộc các cực tăng trưởng như Đông Anh, Gia Lâm, Hòa Lạc, với định hướng đồng bộ trường học, bệnh viện, công viên để đảm bảo chất lượng sống tốt hơn nơi ở cũ.

Cùng với dân cư, quy hoạch đề cập di dời một số trường đại học, cơ sở nghề nghiệp và mạng lưới bệnh viện trung ương ra các đô thị vệ tinh hoặc các tỉnh lân cận; đồng thời cải tạo chung cư cũ để giải phóng không gian và sắp xếp lại dân cư.

Bên cạnh đó, nhiều cơ quan, trụ sở công cộng được định hướng di chuyển hoặc xây dựng mới tại các trung tâm chức năng. Khu vực Ba Đình - Hồ Gươm định hướng mở rộng quảng trường, bổ sung công trình công cộng và các công sở mới để hình thành trung tâm chính trị - kinh tế hiện đại.

Công viên ở Hà Nội sau chỉnh trang. Công viên Cầu Giấy. Ảnh: Phạm Chiểu

Hơn 64,8 triệu tỷ đồng hiện thực hóa quy hoạch Thủ đô

Quy hoạch tính toán tổng nhu cầu đầu tư khoảng 64,8 triệu tỷ đồng giai đoạn 2026-2045. Trong đó, giai đoạn 2026-2035 cần khoảng 14,5 triệu tỷ đồng, ưu tiên hạ tầng cơ bản và các dự án dân sinh bức xúc. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn này dự kiến huy động 14,5 triệu tỷ đồng, khu vực nhà nước khoảng 4,4 triệu tỷ đồng, chiếm 30,38%, gồm đầu tư của doanh nghiệp nhà nước Trung ương và TP khoảng 2,4 triệu tỷ đồng. Doanh nghiệp tư nhân và dân cư là nguồn lực lớn nhất với khoảng 8,8 triệu tỷ đồng, chiếm 60,76% tổng vốn đầu tư.

Quy hoạch đề xuất danh mục kêu gọi đầu tư các dự án, nhóm dự án lớn tổng mức khoảng 9,68 triệu tỷ đồng, tập trung vào hạ tầng, phát triển khu đô thị mới, tái cấu trúc đô thị, hạ tầng khu, cụm công nghiệp và các dự án khoa học - công nghệ, y tế, giáo dục, văn hóa, thể thao, du lịch.

Sang giai đoạn 2036-2045, tổng vốn đầu tư toàn xã hội cần huy động ước khoảng 50,34 triệu tỷ đồng. Khu vực nhà nước dự kiến huy động khoảng 14,1 triệu tỷ đồng, chiếm 28% tổng vốn đầu tư; doanh nghiệp tư nhân khoảng 31,1 triệu tỷ đồng, chiếm 61,79%.

Thành phố định hướng khu vực tư nhân giữ vai trò chủ lực thông qua PPP và phát triển các khu đô thị mới, khu công nghiệp, công nghệ cao, y tế, giáo dục. Ngân sách công tập trung cho hạ tầng khung và các vấn đề dân sinh như chống ngập. Một cơ chế tài chính được đề xuất là cho phép Hà Nội giữ 100% tiền sử dụng đất, tiền thuê đất thu được từ các cực tăng trưởng mới để tái đầu tư hạ tầng, đồng thời ưu tiên các dự án đột phá theo tinh thần Nghị quyết 258/2025 về cơ chế đặc thù.

Sơn Hà

Cập nhật BCTC quý IV/2025 ngày 31/1: Hơn 700 báo cáo xuất hiện, loạt cái tên lớn Vietcombank, BIDV, Hòa Phát, BSR, Vietjet, PV Gas, Vinamilk, Becamex... lộ diện
Theo cập nhật ngày 31/1, thị trường ghi nhận nhóm ngân hàng quốc doanh ra báo cáo; Vietjet và BSR tạo đột biến nhất; Hòa Phát và Vinamilk tăng trưởng; Becamex, GAS, Vietnam Airlines suy giảm, NVB thua lỗ.