|
 Thuật ngữ VietnamBiz
Thời sự

Gói hỗ trợ 280.000 tỉ đồng cứu doanh nghiệp: Cẩn trọng các hiệu ứng phụ

08:04 | 21/03/2020
Chia sẻ
Việc đưa ra gói kích thích kinh tế là cần thiết nhưng cần xác định đúng đối tượng thụ hưởng với các tiêu chí xác đáng để tránh rủi ro cho nền kinh tế.

280.000 tỷ đồng hỗ trợ tín dụng và tài khóa

Chính phủ vừa ban hành Chỉ thị 11 về giải pháp cấp bách tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, bảo đảm an sinh xã hội trong bối cảnh ứng phó dịch COVID-19; trong đó có hai gói hỗ trợ quan trọng gồm gói tín dụng 250.000 tỷ đồng và gói hỗ trợ tài khoá 30.000 tỷ đồng nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp (DN), người dân chịu ảnh hưởng của dịch bệnh.

Hiện tại, một số ngân hàng đã bắt đầu triển khai gói tín dụng ưu đãi lãi suất cũng như chính sách miễn, giảm lãi vay với các khoản dư nợ hiện tại của doanh nghiệp bị ảnh hưởng. 

Cụ thể, Vietinbank đang xem xét cơ cấu lại gần 20.000 tỷ tiền nợ và miễn giảm hơn 26.800 tỷ lãi vay cho các khách hàng. 

Ngân hàng này cũng dự tính dành 15.000 tỷ đồng và 150 triệu USD để cho vay ngắn hạn với lãi suất 5% bằng VNĐ và 2,8% bằng USD. Ngoài ra, đến hết 30/6, tùy theo mức độ ảnh hưởng của dịch bệnh tới doanh nghiệp, ngân hàng sẽ giảm trừ lãi suất 1,25-3%/năm so với sàn lãi cho vay thông thường (trong thời gian tối đa 6 tháng).

Gói hỗ trợ 280.000 tỉ đồng cứu doanh nghiệp: Cẩn trọng các hiệu ứng phụ - Ảnh 1.

Chính phủ tung gói hỗ trợ 280.000 tỷ đồng để cứu doanh nghiệp. (Ảnh minh họa: KT)

Ngân hàng BIDV cũng thông báo triển khai gói tín dụng quy mô 20.000 tỷ đồng và 100 triệu USD dành cho các khách hàng doanh nghiệp và gói tín dụng quy mô 5.000 tỷ đồng cho khách hàng cá nhân hoạt động sản xuất kinh doanh trong các lĩnh vực bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19.

Ngân hàng ACB tung ra gói tín dụng 25.000 tỷ đồng cho vay hỗ trợ khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh. 

Vietcombank sẽ giảm lãi suất cho khoảng 30.000 tỷ đồng dư nợ vay. Eximbank dành 4.000 tỷ đồng cho các doanh nghiệp vay với lãi suất từ 6,99%... đều trong gói hỗ trợ kể trên.

Bên cạnh đó, mới đây, Bộ Tài chính đã đưa ra dự thảo Nghị định về gia hạn nộp thuế và tiền thuê đất cho đối tượng chịu ảnh hưởng bởi dịch Covid-19. 

Theo đó, sẽ gia hạn 5 tháng đối với các khoản: thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân và tiền thuê đất phát sinh phải nộp của các tháng 3, tháng 4, tháng 5, tháng 6/2020 (với trường hợp kê khai theo tháng) hoặc của Quý I và Quý II/2020 (với trường hợp nộp theo quý). Theo tính toán của Bộ Tài chính, tổng số tiền gia hạn thuế đợt này là 30.100 tỷ đồng.

Khả năng hấp thụ không dễ

Theo PGS. TS. Tô Trung Thành, trường Đại học Kinh tế Quốc dân, chính sách hỗ trợ trên là rất cần thiết để vực dậy khu vực sản xuất kinh doanh vốn đang bị ảnh hưởng rất nặng nề từ dịch Covid-19.

 Tuy nhiên, nếu gói tín dụng 250.000 tỷ đồng này là gói cho vay mới với mức lãi suất thấp thì khả năng hấp thụ được dòng tín dụng mới này là rất khó khăn. 

Nguyên nhân là do các DN hoạt động cầm chừng hoặc không sản xuất không phải vì thiếu vốn mà vì cầu giảm sút nghiêm trọng, chuỗi sản xuất toàn cầu bị đình trệ, nên cho dù lãi suất thấp, các DN có thể sẽ không phản ứng hoặc phản ứng rất yếu.

Gói hỗ trợ 280.000 tỉ đồng cứu doanh nghiệp: Cẩn trọng các hiệu ứng phụ - Ảnh 2.

PGS. TS. Tô Trung Thành, trường Đại học Kinh tế Quốc dân

“Thực tế trong 2 tháng đầu năm 2020, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống chỉ đạt 0,06%, giảm so với mức tăng 1% cùng kỳ năm trước. 

Ngoài ra, tỷ lệ cung tiền/GDP của Việt Nam đang ở mức cao nhất khu vực cung tiền M2/GDP gia tăng liên tục từ năm 2011 và đến năm 2019 ở mức gần 160% (cao nhất khu vực ASEAN); đồng thời dư nợ tín dụng/GDP cũng tăng dần qua các năm và đã đạt tới 134% trong năm 2019. 

Vì vậy, việc gia tăng mạnh cung tiền và tín dụng có thể có rủi ro về lạm phát”, PGS. TS. Tô Trung Thành phân tích.

PGS. TS. Tô Trung Thành cho rằng, trong bối cảnh hiện nay, không nên lạm dụng chính sách tiền tệ để kích thích nền kinh tế. Chính sách tiền tệ chỉ nên dùng ở mức độ đảm bảo thanh khoản cho hệ thống tài chính-ngân hàng, không nên bơm thêm nhiều tiền cho nền kinh tế.

 Thay vào đó, cần tháo gỡ quyết liệt những rào cản tiếp cận vốn của các DN, đặc biệt là các DN vừa và nhỏ. Ví dụ như: minh bạch hóa các quy định liên quan đến cấp tín dụng gồm điều kiện, thủ tục và quy trình cấp tín dụng; xem xét bổ sung danh mục tài sản được chấp nhận làm tài sản đảm bảo (TSĐB), tăng tỷ lệ cho vay so với TSĐB; cải tiến quy trình cho vay, thủ tục vay vốn, nâng cao khả năng thẩm định để rút ngắn thời gian giải quyết cho vay, tạo điều kiện cho DN tiếp cận vốn nhưng vẫn đảm bảo an toàn vốn vay.

“Thay vì chính sách tiền tệ (hiệu quả thấp do phản ứng của DN đối với chính sách yếu và rủi ro ổn định vĩ mô), giai đoạn này cần tập trung vào chính sách tài khóa để hỗ trợ DN và khu vực sản xuất. 

Gói hỗ trợ 30.000 tỷ đồng cho chính sách tài khóa nên tập trung áp dụng một số chính sách miễn giảm thuế, giãn thuế VAT, thuế thu nhập DN và bảo hiểm xã hội cho các DN phải ngưng sản xuất hoặc sản xuất cầm chừng do dịch cúm”, PGS. TS. Tô Trung Thành khuyến nghị.

Cẩn trọng với những hệ lụy

Còn theo PGS. TS. Ngô Trí Long, chuyên gia kinh tế, Chỉ thị đã được ban hành kịp thời, song cần khẩn trương xây dựng các tiêu chí thực thi và tính toán cách thức thực hiện thật hiệu quả, đặc biệt là khâu giám sát để tránh các rủi ro với nền kinh tế.

“Tổng cả 2 gói này là 280.000 tỷ đồng, số tiền rất lớn với nền kinh tế hiện nay. 

Năm 2009, chúng ta đã từng có gói kích thích kinh tế 18.000 tỷ đồng, bên cạnh những kết quả tích cực, việc thực hiện gói kích thích kinh tế này cũng đã để lại nhiều bài học và buộc chúng ta phải cẩn trọng trong giai đoạn hiện nay, trong đó, hai rủi ro lớn nhất là trục lợi chính sách và lạm phát”, ông Ngô Trí Long lo ngại.

Gói hỗ trợ 280.000 tỉ đồng cứu doanh nghiệp: Cẩn trọng các hiệu ứng phụ - Ảnh 3.

PGS. TS. Ngô Trí Long, chuyên gia kinh tế

Chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long cho rằng, điều quan trọng nhất là phải xác định đúng đối tượng thụ hưởng với những tiêu chí xác đáng và cụ thể để tránh tình trạng hỗ trợ “sai địa chỉ”. 

Việc hỗ trợ không đúng đối tượng có thể gây nguy cơ dòng tiền chảy vào những kênh đầu tư không hiệu quả hoặc kém bền vững, từ đó không bảo đảm chất lượng tăng trưởng và rủi ro lạm phát tăng cao sau khi triển khai xong các gói chính sách này.

Đồng tình với quan điểm trên, bà Phạm Chi Lan, chuyên gia kinh tế cũng cho rằng, thời điểm này, có thể tung ra gói kích thích kinh tế nhưng cần rất chọn lọc, đúng chỗ. 

Vì tung lượng cung tiền ra quá lớn, trong khi chúng ta chưa đánh giá được rõ các thiệt hại, bản chất của khó khăn nơi doanh nghiệp, đúng đối tượng và mục tiêu của gói kích thích sẽ khiến rủi ro lớn về dài hạn.

“Hãy nhìn vào gói kích cầu năm 2009 của Việt Nam sau khi thế giới xảy ra khủng hoảng tài chính để rút kinh nghiệm. Sau khi gói kích cầu được đưa ra, hệ quả lạm phát, chất lượng tăng trưởng của Việt Nam 5-7 năm sau mới khắc phục được. Dư cung tiền quá lớn khiến bất động sản, chứng khoán xuất hiện bong bóng, sóng và nơi trú ngụ của người có tiền. 

Thị trường nhà đất bị thổi bùng về mức giá, bong bóng bất động sản, chứng khoán liên tục đe doạ nền kinh tế và nếu không có cách biện pháp “bắt nhốt” nợ xấu, nền kinh tế đã rơi vào hỗn loạn”, bà Phạm Chi Lan cảnh báo.

Cẩm Tú