Doanh nghiệp

Nhà thầu trong nước và quốc tế gặp khó, loạt nhà máy nhiệt điện lớn của PVN chậm tiến độ

11:19 | 08/07/2019

Chia sẻ

Việc chậm tiến độ của các nhà máy nhiệt điện của PVN liên quan đến các nhà thầu như PVC tại Nhiệt điện Thái Bình 2, nhà thầu Power Machines (Nga) tại Nhiệt điện Long Phú 1.

Nhiệt điện Thái Bình 2 nguy cơ tiếp tục chậm tiến độ

Ngày 4/7, tại Hà Nội, Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam (PVN) đã có một số thông tin về những vướng mắc dẫn đến chậm tiến độ của 3 dự án nhiệt điện thuộc diện cấp bách của tập đoàn này là dự án Nhà máy nhiệt điện như Thái Bình 2, Long Phú 1 và Sông Hậu 1.

Về tiến độ tổng thể Dự án Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2 đạt 84,14%. Trong đó, tiến độ các hạng mục như thiết kế đạt 99,57%; ký các Hợp đồng mua sắm đạt khoảng 95%; gia công, chế tạo và vận chuyển đạt 93,79%; thi công đạt 81,98%, chạy thử đạt 3,51%. Hầu hết các hạng mục xây dựng chính của dự án đều đã hoàn thành cơ bản và đang vào giai đoạn hoàn thiện.

Dự án này có quy mô công suất 1.200 MW, bao gồm 02 Tổ máy, mỗi tổ 600 MW. Tiến độ cam kết ban đầu 39 tháng và 45 tháng hoàn thành cho từng Tổ máy. Tiến độ dự kiến hoàn thành Tổ máy 1 vào tháng 6/2020 và Tổ máy 2 vào tháng 10/2020.

A23

Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2. Ảnh:

Tuy nhiên, dự án này có nguy cơ chậm tiến độ do tổng thầu EPC là Tổng CTCP Xây lắp Dầu khí (PVC) trong quá trình triển khai dự án có một số sai phạm đã và đang được các cơ quan chức năng xem xét, xử lí. Việc sử dụng số tiền sai mục đích (khoảng 1.115 tỉ đồng) dẫn đến nhiều hệ lụy cả về chi phí, tiến độ, pháp lý, ảnh hưởng đến nguồn lực trong triển khai dự án.

Bên cạnh đó, Chi phí quản lý dự án của Tổng thầu PVC tăng cao do dự án đã bị chậm tiến độ. Hồ sơ, thủ tục pháp lý của dự án còn một số vấn đề không đảm bảo nên có rất nhiều việc hoàn thành nhưng không thể thanh/quyết toán (trong đó có cả yếu tố tâm lý của những cán bộ được cử đến "giải cứu" dự án này).

Ngoài ra, do tiến độ dự án bị kéo dài nên có nhiều khó khăn và rủi ro phát sinh như máy móc thiết bị hết thời hạn bảo hành; không vay thêm được vốn…

Nhà máy Nhiệt điện Long Phú 1 chậm tiến độ do Nhà thầu Power Machines (Nga) bị Mỹ cấm vận

Nhà máy Nhiệt điện Long Phú 1 có công suất 1.200 MW bao gồm hai tổ máy, mỗi tổ 600 MW. Tiến độ cam kết ban đầu của dự án là 45 tháng và 49 tháng hoàn thành cho từng Tổ máy (hoàn thành Tổ máy 1 vào 30/10/2018 và Tổ máy 2 vào 30/2/2019).

Cập nhật mới nhất, khối lượng hoàn thành công việc ước tính đạt khoảng 77,56% so với kế hoạch (100%). Nguyên nhân chính dẫn đến việc chậm tiến độ xuất phát từ phía Nhà thầu Power Machines (Nga) và việc Chính phủ Mỹ áp đặt lệnh cấm vận trực tiếp đối với nhà thầu này từ ngày 26/1/2018.

A123

Tiến độ dự án Nhiệt điện Long Phú 1 vào tháng 10/2018. Ảnh: Báo Tuổi trẻ

Được biết, Nhiệt điện Long Phú 1 có tổng thầu EPC là Liên danh Power Machines (Nga) – Tổng CTCP Dịch vụ kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (Liên danh PM – PTSC).

Từ thời điểm Nhà thầu Power Machines (PM) bị cấm vận bởi Chính phủ Mỹ (26/01/2018), công tác mua sắm hàng hóa, thiết bị nhập khẩu và thu xếp vốn cho dự án thuộc phạm vi công việc của PM đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng, gần như không đạt được tiến triển cụ thể.

Kết quả là khối lượng công việc hoàn thành của Liên danh Tổng thầu PM - PTSC chỉ tăng thêm khoảng 7%, chủ yếu là tiếp tục triển khai các công việc liên quan đến xây dựng, lắp đặt cho các phần việc không bị ảnh hưởng bởi lệnh cấm vận.

Đến nay, Dự án vẫn chưa xác định được tiến độ khả thi do Nhà thầu Power Machines hiện không tiếp tục thực hiện hợp đồng EPC vì không giải quyết được các khó khăn/vướng mắc do ảnh hưởng của cấm vận.

Bên cạnh đó, nhà thầu này đề xuất PVN xem xét phương án cấu trúc lại, tăng giá, và nhiều điều kiện khác không phù hợp với quy định của Hợp đồng EPC hoặc chấm dứt thực hiện Hợp đồng EPC.

Ngày 28/1/2019, Nhà thầu PM có văn bản chính thức thông báo về việc Chấm dứt thực hiện Hợp đồng EPC dự án NMNĐ Long Phú 1 do ảnh hưởng của lệnh cấm vận và chính thức dừng các hoạt động tại công trường kể từ ngày 15/03/2019.

Theo đó, nhà thầu PM dừng tham gia kiểm tra, giám sát các công việc xây dựng và lắp đặt, dừng tham gia các cuộc họp với Ban QLDA và các bên liên quan để xử lý các vấn đề tồn tại/phát sinh, dừng ký các biên bản, hồ sơ, giấy tớ liên quan đến công tác triển khai Dự án và rút Giám đốc công trường về nước kể từ ngày 29/03/2019.

Ngày 6/6 vừa qua, nhà thầu PM đã huy động chuyên gia giám sát của nhà sản xuất tới công trường để giám sát, nghiệm thu công tác lắp đặt Lò hơi.

Theo đánh giá, việc Nhà thầu PM dừng, không tham gia vào công tác triển khai Dự án trong khoảng thời gian dài nêu trên đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến công tác tiếp tục thực hiện các hạng mục công việc khác mà không bị ảnh hưởng bởi lệnh cấm vận của Dự án.

Trong đó, quan trọng nhất là việc tiếp tục cung cấp vật tư/thiết bị và giám sát, nghiệm thu lắp đặt các Lò hơi, các Máy biến áp (do TKZ, PMTT là các đơn vị thành viên của PM cung cấp) và Hệ thống lọc bụi tĩnh điện, Ống khói của Nhà máy. Điều này dẫn đến PTSC và Nhà thầu phụ Lilama không thể tiến hành bảo quản, bảo dưỡng vật tư/thiết bị, tiềm ẩn nguy cơ bị hỏng hóc/ăn mòn và có thể phải thay thế mới.a

Nhà máy Nhiệt điện Sông Hậu 1 cũng gặp phải hàng loạt khó khăn

Dự án Nhiệt điện Sông Hậu 1 có công suất tương đương với Nhiệt điện Thái Bình 2 và Long Phú 1. Tổng thầu EPC của dự án này là TCP Lắp máy Việt Nam (Lilama). Đến nay, tiến độ tổng thể đạt khoảng 73%, trong đó công tác thiết kế đạt 98%, công tác mua sắm đạt 94,5%, công tác thi công đạt 69,4%.

A1234

Tiến độ dự án Nhiệt điện Sông Hậu 1 tính đến tháng 4/2019. Ảnh: Giang Chi Anh

Sau khi hoàn thành lựa chọn nhà thầu phụ hệ thống FGD, tiến độ triển khai dự án NMNĐ Sông Hậu 1 đã có những chuyển biến nhất định. Mục tiêu điều hành trong năm 2019 là hoàn thành việc thi công xây dựng của hầu hết các hạng mục trong nhà máy (ngoại trừ bãi xỉ, hệ thống FGD, cảng xuất tro xỉ, thạch cao), tiến hành chạy thử một số hệ thống thiết bị như hệ thống nước khử khoáng, hệ thống dầu, các thiết bị điện

Hiện dự án đang gặp phải một số vướng mắc như liên quan đến việc phương thức điều chỉnh giá Hợp đồng EPC chưa có quy định/ hướng dẫn cụ thể của cơ quan có thẩm quyền, trong khi cả Chủ đầu tư và Tổng thầu chưa có kinh nghiệm thực hiện hợp đồng EPC theo hình thức điều chỉnh giá nên các bên gặp nhiều vướng mắc trong quá trình thực hiện điều này dẫn đến công tác thanh toán chưa đáp ứng theo tiến độ thi công, ảnh hưởng đến dòng tiền thanh toán cho Tổng thầu/ các Nhà thầu phụ để triển khai công việc.

Bên cạnh đó, việc lựa chọn nhà thầu FGD bị kéo dài (trước đây) làm ảnh hưởng tiến độ chung của dự án; tiến độ thi công đường dây 500kV Sông Hậu – Đức Hòa do Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) làm chủ đầu tư đang chậm…

Phan Quân