|
 Thuật ngữ VietnamBiz
Tài chính

Lãi suất ngân hàng Vietcombank tháng 11/2023 giảm tại nhiều kỳ hạn

17:12 | 02/11/2023
Chia sẻ
Bước sang tháng mới, ngân hàng Vietcombank điều chỉnh giảm lãi suất dành cho khách hàng cá nhân tại một số kỳ hạn. Hiện, khung lãi suất mới dành cho khách hàng gửi tiết kiệm vào trong khoảng 2,8 - 5,1%/năm, lĩnh lãi cuối kỳ.

Biểu lãi suất ngân hàng Vietcombank dành cho khách hàng cá nhân tháng 11/2023

Theo khảo sát, Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam (Vietcombank) điều chỉnh giảm lãi suất tiết kiệm tại nhiều kỳ hạn. Sau điều chỉnh, biểu lãi suất mới về trong khoảng 2,8 - 5,1%/năm, được triển khai cho các kỳ hạn 1 - 60 tháng, lĩnh lãi cuối kỳ.

Chi tiết hơn, mức lãi suất ngân hàng được áp dụng cho kỳ hạn 1 tháng và 2 tháng cùng giảm 0,2 điểm % về mức 2,8%/năm. Kỳ hạn 3 tháng có mức lãi suất là 3,1%/năm, giảm 0,2 điểm %.

Lãi suất ngân hàng Vietcombank được áp dụng cho kỳ hạn 6 tháng và 9 tháng cùng giảm 0,2 điểm % về mức ​​4,1%/năm. Mức lãi suất được niêm yết cho các khoản tiền gửi có kỳ hạn 12 - 60 tháng về mức 5,1%/năm sau khi giảm 0,2 điểm %.

Cùng thời điểm khảo sát, lãi suất tiền gửi được triển khai cho kỳ hạn ngắn 7 ngày, 14 ngày vẫn ở mức 0,2%/năm. Lãi suất không kỳ hạn cũng được giữ nguyên là 0,1%/năm.

Nguồn: Vietcombank.

Kỳ hạn

VND

Không kỳ hạn

0,1

7 ngày

0,2

14 ngày

0,2

1 tháng

2,8

2 tháng

2,8

3 tháng

3,1

6 tháng

4,1

9 tháng

4,1

12 tháng

5,1

24 tháng

5,1

36 tháng

5,1

48 tháng

5,1

60 tháng

5,1

Nguồn: Vietcombank

Lãi suất ngân hàng Vietcombank áp dụng cho khách hàng doanh nghiệp

Bên cạnh đó, biểu lãi suất huy động của Vietcombank dành cho khách hàng doanh nghiệp áp dụng cho kỳ hạn 1 - 60 tháng tiếp tục giảm 0,2 điểm % ở một vài kỳ hạn về trong khoảng ​​2,7 - 4,6%/năm.

Trong đó, lãi suất tiết kiệm được áp dụng cho kỳ hạn 1 tháng và 2 tháng ổn định với 2,7%/năm. Khách hàng gửi tiền tại kỳ hạn 3 tháng sẽ được hưởng mức lãi suất 3,2%/năm, giảm 0,2 điểm %.

Mức lãi suất được ghi nhận tại hai kỳ hạn 6 tháng và 9 tháng là 4%/năm, giảm 0,2 điểm %. Sau khi được điều chỉnh giảm 0,2 điểm %, khách hàng khi gửi tiền tại kỳ hạn 12 - 60 tháng được hưởng chung mức lãi suất là 4,6%/năm.

Bên cạnh đó, mức lãi suất được niêm yết cho tiền gửi không kỳ hạn được duy trì ở mức 0,2%/năm.

Kỳ hạn

VND

Tiền gửi thanh toán

Không kỳ hạn

0,2

Tiền gửi có kỳ hạn

1 tháng

2,7

2 tháng

2,7

3 tháng

3,0

6 tháng

4,0

9 tháng

4,0

12 tháng

4,6

24 tháng

4,6

36 tháng

4,6

48 tháng

4,6

60 tháng

4,6

Nguồn: Vietcombank

Biểu lãi suất tiết kiệm online tại ngân hàng Vietcombank

Hình thức gửi tiết kiệm online cũng được điều chỉnh giảm lãi suất ở nhiều kỳ hạn. Hiện, khung lãi suất mới dành cho khách hàng gửi tiền tại các kỳ hạn vào trong khoảng 2,8 - 5,1%/năm.

Theo đó, mức lãi suất cao nhất đang được triển khai là 5,1%/năm được niêm yết cho khoản tiền gửi online ở kỳ hạn 12 tháng và 24 tháng, giảm 0,2 điểm %. 

Kỳ hạn

Lãi suất huy động (/năm)

14 ngày

0,2

1 tháng

2,8

3 tháng

3,1

6 tháng

4,1

9 tháng

4,1

12 tháng

5,1

24 tháng

5,1

Nguồn: Vietcombank


Hội thảo “Chiến lược phát triển và đầu tư bất động sản sau Nghị quyết 21 và những cập nhật chính sách”

Thời gian: 8h00 ngày 22/09/2026
Địa điểm: L7 West Lake Hanoi by Lotte Hotels, Ballroom tầng 4, 683 Lạc Long Quân, Tây Hồ, Hà Nội

Sự kiện quy tụ đại diện cơ quan quản lý, Đại biểu Quốc hội, chuyên gia bất động sản, chuyên gia kinh tế độc lập, doanh nghiệp… Các diễn giả sẽ cùng thảo luận, phân tích những nội dung quan trọng của Nghị quyết 21 và những chính sách mới; từ đó đánh giá tác động, gợi mở chiến lược phát triển và đầu tư bất động sản trong thời gian tới.

Hai phiên thảo luận chính:

Phiên 1: Nghị quyết 21 và các thay đổi pháp lý
Phiên 2: Những tác động đến tương lai phát triển và đầu tư bất động sản
Thảo luận - Hỏi đáp cùng chuyên gia

Anh Thư

Bức tranh chất lượng tài sản ngân hàng: Lãi dự thu tăng gấp đôi tốc độ tăng dư nợ, cho vay qua trái phiếu tăng 41%
Chứng khoán TCBS nhận định ba rủi ro cho chất lượng tài sản ngành ngân hàng nửa cuối 2026 là nợ nhóm 2 tăng hai quý liên tiếp, dự phòng tăng chậm hơn nợ xấu, và lãi dự thu tăng 36,1% so với cùng kỳ, gấp đôi tốc độ tăng dư nợ.