|
 Thuật ngữ VietnamBiz
Thời sự

Đơn hàng kín đến hết tháng 4, nhiều doanh nghiệp tăng tốc sản xuất ngay sau Tết

07:00 | 24/02/2026
Chia sẻ
Ngay sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, nhiều doanh nghiệp đồng loạt tăng tốc sản xuất khi đơn hàng đã kín đến hết tháng 4, sẵn sàng bảo đảm tiến độ các hợp đồng đầu năm.

 

Gần 100% cán bộ công nhân viên May 10 quay trở lại làm việc ngay ngày đầu sau kỳ nghỉ Tết. (Ảnh: Nguyễn Ngọc).

Ngay sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, toàn thể cán bộ, công nhân viên của Tổng Công ty May 10 đã trở lại nhà máy với khí thế khẩn trương, sẵn sàng bước vào guồng quay sản xuất của năm mới.

Theo ông Thân Đức Việt, Tổng Giám đốc Tổng Công ty May 10, đến thời điểm này, đơn hàng của doanh nghiệp đã phủ kín đến hết tháng 4. Vì vậy, từ trước Tết, ban lãnh đạo doanh nghiệp đã chủ động vận động, kêu gọi người lao động chuẩn bị tâm thế sẵn sàng tăng tốc ngay sau kỳ nghỉ.

May 10 duy trì tổ chức xe đưa công nhân ở xa về quê ăn Tết và đón trở lại nhà máy sau kỳ nghỉ, bắt đầu từ mùng 5 (năm nay mùng 7 mới đi làm). Cùng với đó là hàng loạt chương trình phúc lợi được triển khai, điển hình trong dịp Tết 2026, doanh nghiệp thưởng tháng lương thứ 13 tăng thêm 2%, tương đương gần hai tháng lương cho người lao động, bên cạnh các khoản thưởng và quà Tết khác.

“Nhờ sự chuẩn bị chu đáo này, tỷ lệ người lao động trở lại làm việc sau Tết đạt trên 99%, chỉ trừ một số trường hợp đặc biệt. Đây được xem là tín hiệu khởi đầu thuận lợi cho năm sản xuất mới”, ông Việt cho hay.

Ông Thân Đức Việt, Tổng Giám đốc Tổng Công ty May 10. (Ảnh: Nguyễn Ngọc)

Tương tự, ông Trương Hoàng Nam, Giám đốc Công ty EuroHa Việt Nam cho biết hơn 80% lao động đã quay trở lại làm việc ngay sau kỳ nghỉ Tết và nhanh chóng bắt tay vào sản xuất, bảo đảm thực hiện các đơn hàng đã ký kết.

Nhiều đơn hàng đã được chốt với đối tác từ tháng 10 và tháng 12 năm trước, giúp doanh nghiệp duy trì hoạt động sản xuất xuyên suốt trước và trong tháng 1. Sau Tết, lượng hợp đồng đã ký tiếp tục đủ để bảo đảm sản xuất đến hết tháng 4 năm nay, tạo nền tảng ổn định cho kế hoạch kinh doanh những tháng đầu năm.

“Mục tiêu tăng trưởng của công ty thì cũng hòa vào nhịp tăng trưởng GDP của đất nước. Chúng tôi cũng đã đặt mục tiêu là tăng trưởng hai con số, tương đương hoặc cố gắng làm sao mà phát triển có thể cao hơn con số hai con số”, ông Nam kỳ vọng.

Dữ liệu từ Cục Thống kê cho thấy những tín hiệu tích cực về “sức khỏe” của khu vực sản xuất ngay từ đầu năm. Cụ thể, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 1/2026 ước tăng 21,5% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu nhờ đơn hàng cải thiện và số ngày làm việc trong tháng nhiều hơn so với năm trước. Trong đó, riêng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 23,6%, tiếp tục đóng vai trò động lực tăng trưởng chính.

Đáng chú ý, IIP tháng 1/2026 ghi nhận mức tăng ở toàn bộ 34 địa phương trên cả nước. Nhiều địa phương đạt mức tăng khá nhờ sự bứt phá của ngành chế biến, chế tạo và ngành sản xuất, phân phối điện. Điều này cho thấy đà phục hồi và mở rộng sản xuất đang diễn ra tương đối đồng đều, tạo nền tảng thuận lợi cho tăng trưởng công nghiệp trong các quý tiếp theo.

Ngành sản xuất đang phục hồi cũng thể hiện ở chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI). Trong tháng 1, PMI đạt 52,5 điểm, khẳng định sức khỏe ngành sản xuất Việt Nam tăng trưởng tháng thứ bảy liên tiếp. Trong đó có 3 điểm nhấn nổi bật: Sản lượng, số lượng đơn đặt hàng mới và việc làm tăng nhanh hơn; niềm tin kinh doanh đạt mức cao nhất trong 22 tháng và giá cả đầu ra tăng mạnh nhất kể từ tháng 4/2022.

Đánh giá về sự chuyển biến tích cực của ngành sản xuất Việt Nam trong tháng đầu năm, ông Andrew Harker, Giám đốc Kinh tế tại S&P Global Market Intelligence cho biết, ngành sản xuất của Việt Nam đã có một khởi đầu vững chắc cho năm nay, khi các doanh nghiệp tăng cường sản lượng để đáp ứng lượng đơn đặt hàng mới tăng và như một phần nỗ lực đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng.

“Tiếp nối động lực tăng trưởng được tích lũy cho tới cuối năm 2025, ngành sản xuất có triển vọng tốt cho một năm 2026 thành công”, ông Andrew Harker nêu rõ.

Nguồn: S&P Global

Lực cản tiềm tàng

Tuy nhiên, Giám đốc Kinh tế tại S&P Global Market Intelligence lưu ý có một lực cản tiềm tàng đối với các công ty là áp lực lạm phát mạnh lên. Tình trạng khan hiếm nguồn cung nguyên vật liệu tiếp tục làm tăng mạnh giá cả trong tháng 1/2026 và các công ty phản ứng bằng cách tăng giá bán ở mức độ mạnh hơn.

“Cho đến nay, nhu cầu vẫn chưa thay đổi trước những áp lực này, nhưng chúng ta sẽ cần để ý đến bất kỳ dấu hiệu yếu đi nào của số lượng đơn đặt hàng mới trong những tháng tới”, ông Andrew Harker nêu rõ.

Trước áp lực này, ông Trương Hoàng Nam, Công ty EuroHa Việt Nam cho biết doanh nghiệp đã chủ động xây dựng kế hoạch bảo đảm nguồn cung phụ liệu từ trước Tết, đặt hàng và nhận hàng sớm để không gián đoạn sản xuất sau kỳ nghỉ. Đồng thời, công ty làm việc với một số đối tác để đặt cọc, cố định mức giá nguyên vật liệu nhằm hạn chế biến động chi phí.

“Doanh nghiệp cũng ký trước các hợp đồng và tăng dự trữ nguyên vật liệu chính, đặc biệt là nhôm nguyên liệu, nhằm giữ được mức giá tốt và bảo đảm nguồn cung ổn định cho sản xuất cũng như cho thị trường”, ông Nam cho hay. 

Còn theo ông Vũ Đức Giang, Chủ tịch Hiệp hội Dệt May Việt Nam, trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, cộng đồng doanh nghiệp không lựa chọn cách ứng phó thụ động mà đã chủ động điều chỉnh chiến lược phát triển để thích ứng với những thay đổi nhanh chóng về chính sách, thị trường và chuỗi cung ứng.

Theo đó, ngành dệt may đã xác lập và triển khai đồng bộ ba trụ cột chiến lược mang tính nền tảng. Trọng tâm đầu tiên là đa dạng hóa thị trường xuất khẩu. Từ chỗ phụ thuộc lớn vào một số thị trường truyền thống, đến nay sản phẩm dệt may Việt Nam đã hiện diện tại 138 thị trường trên toàn cầu, qua đó phân tán rủi ro và nâng cao khả năng chống chịu trước các cú sốc từ bên ngoài.

Ông Vũ Đức Giang, Chủ tịch Hiệp hội Dệt May Việt Nam. (Ảnh: Nguyễn Ngọc)

Song song với mở rộng thị trường, các doanh nghiệp trong ngành đẩy mạnh đa dạng hóa đối tác và khách hàng, giúp chủ động hơn trong đàm phán và thích ứng với sự thay đổi trong phương thức mua hàng, đồng thời giảm phụ thuộc vào một số ít nhãn hàng lớn.

Cùng với đó, cơ cấu mặt hàng cũng được điều chỉnh theo hướng giảm dần gia công đơn giản, gia tăng tỷ trọng các sản phẩm đáp ứng nhu cầu ngày càng phân hóa của thị trường và xu hướng tiêu dùng mới.

Bên cạnh các giải pháp về công nghệ và môi trường, việc tăng cường liên kết chuỗi tiếp tục được chú trọng, tập trung phát triển nguồn cung trong nước, nâng cao năng lực quản trị và thúc đẩy chia sẻ kinh nghiệm thông qua các hội thảo chuyên đề với sự tham gia của các tổ chức quốc tế.

"Trên nền tảng những nỗ lực này, ngành dệt may Việt Nam đặt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 50 tỷ USD trong năm 2026, tiếp tục khẳng định vai trò là một trong những ngành xuất khẩu chủ lực của nền kinh tế”, ông Giang kỳ vọng. 

Ngọc Bảo