Tài chính

Ngân sách Việt Nam chỉ chi trả 39% tổng chi phí chăm sóc sức khỏe

11:01 | 24/06/2017

Chia sẻ

So với các nước trên thế giới thì tỷ lệ chi trả phí chăm sóc sức khỏe của ngân sách nhà nước tại Việt Nam khá thấp. Bên cạnh đó, với nguy cơ “vỡ” quỹ bảo hiểm xã hội trong tương lai thì dư địa tham gia của các công ty bảo hiểm tư nhân là rất lớn.
ngan sach viet nam chi chi tra 39 tong chi phi cham soc suc khoe Thông qua Nghị quyết quyết toán ngân sách nhà nước năm 2015

Chi ngân sách Nhà nước năm 2015 vượt 7.100 tỷ đồng so với kế hoạch Quốc hội giao, tương đương 6,28% GDP.

Thông tin trên được cho hay trong một báo cáo ngành bảo hiểm mới được Công ty Chứng khoán Bảo Việt (BVSC) công bố.

Theo báo cáo của BVSC, các khoản chi phí chăm sóc y tế được thực hiện chủ yếu từ nguồn ngân sách nhà nước tại các nước phát triển trên thế giới với tỷ trọng khoảng 68-70% tổng chi phí. Tại các nước Asean, tỷ lệ này tại hầu hết các quốc gia đều ở mức thấp (10-45%), ngoại trừ nước phát triển hơn là Indonesia, Thái Lan.

ngan sach viet nam chi chi tra 39 tong chi phi cham soc suc khoe
Nguồn: BVSC

Trong khi đó tại Việt Nam, chỉ có khoảng 39% tổng chi phí chăm sóc sức khỏe được chi trả từ nguồn ngân sách. Theo đó, người Việt vẫn đang phải bỏ tiền túi ra để chi trả cho các chi phí y tế và chăm sóc sức khỏe không được ngân sách nhà nước tài trợ.

Tại các nước phát triển và quốc gia phát triển hơn trong khu vực ASEAN, các công ty bảo hiểm chi trả bình quân khoảng 25% phần ngoài ngân sách nhà nước tài trợ.

ngan sach viet nam chi chi tra 39 tong chi phi cham soc suc khoe
Nguồn: BVSC

BVSC cho hay, chi phí mà cá nhân phải bỏ tiền túi do không có nguồn tài trợ nào khác như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm sức khỏe trên GDP bình quân đầu người đang ở mức rất cao so với các quốc gia trên thế giới do không có nguồn chi trả từ các hợp đồng bảo hiểm tự tham gia.

BVSC tính toán, bình quân khoảng 3,1% tổng thu nhập hàng năm được dùng để trang trải các chi phí chăm sóc sức khỏe. BVSC kết luận bảo hiểm sức khỏe còn rất nhiều dư địa để tăng trưởng.

21% người trong độ tuổi lao động đủ điều kiện hưởng lương hưu

ngan sach viet nam chi chi tra 39 tong chi phi cham soc suc khoe
Nguồn: BVSC

Mặt khác, tại Việt Nam chỉ có 21% lực lượng trong độ tuổi lao động đủ điều kiện để hưởng lương hưu sau khi về hưu. Tỷ lệ này tại các nước phát triển là 88% và các nước trong khu vực là 26%.

Trên thế giới, lương hưu do nhà nước chi trả là nguồn thu nhập chính sau khi về hưu. Do đó, tại Việt Nam, khoảng 80% dân số trong độ tuổi lao động hiện nay chưa có nguồn thu nhập ổn định sau khi về hưu để trang trải chi phí sinh hoạt thường ngày, chưa kể đến các chi phí chăm sóc sức khỏe, chữa bệnh khi về già.

ngan sach viet nam chi chi tra 39 tong chi phi cham soc suc khoe
Nguồn: BVSC

Theo dự báo Quỹ hưu trí của BHXH, từ 2013-2023 đã chi bảo hiểm hưu trí ít hơn tổng thu BHXH và quỹ dự trữ năm trước. Từ năm 2023 trở đi chi bảo hiểm hưu trí sẽ lớn hơn thu BHXH và hết quỹ dự trữ năm trước.

Nguy cơ vỡ quỹ BHXH trong tương lai và tỷ lệ người già, người trong độ tuổi lao động ngày càng cao. Như vậy, các công ty bảo hiểm sẽ có vai trò lớn hơn trong việc giúp người lao động tiết kiệm để có được nguồn thu nhập sau khi về hưu hoặc là một nguồn thu bổ sung ngoài các khoản được chi trả từ ngân sách nhà nước. Chính Phủ có thể sẽ có những chính sách khuyến khích sự tham gia của các công ty bảo hiểm tư nhân, BVSC nhận định.

ngan sach viet nam chi chi tra 39 tong chi phi cham soc suc khoe
Nguồn: BVSC

Các quốc gia đang phát triển như Việt Nam có nhu cầu đầu tư rất lớn, đặc biệt là đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng. Đây là những dự án dài hạn và vốn đầu tư ban đầu rất lớn. Trong khi đó, nguồn vốn nhà nước khá hạn chế do phải đảm bảo ổn định hệ thống tài chính.

Do đó, theo BVSC, huy động vốn từ kênh tư nhân sẽ là phương thức được chú trọng trong thời gian tới và ngành bảo hiểm đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển thị trường vốn do đặc tính huy động được số vốn rất lớn, ổn định hàng năm và dài hạn từ khu vực dân cư.

Theo chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm 2015-2020, doanh thu phí bảo hiểm đến năm 2020 đạt 10,1 – 13,5 tỷ USD bằng 3-4% GDP, tương đương với tốc độ tăng trưởng CAGR 21-29%/năm.

Tiến Vũ