Lãi suất tiết kiệm quanh 6%/năm, vì sao các quỹ đầu tư trái phiếu vẫn bị rút ròng gần 7.500 tỷ đồng?
23/24 quỹ trái phiếu sinh lời dương, VCBF dẫn đầu về hiệu suất
Tính đến đầu tháng 11/2026, tổng giá trị tài sản ròng (NAV) của 24 quỹ mở trái phiếu có thông tin cập nhật đạt khoảng 10.423 tỷ đồng. Hiệu suất đầu tư bình quân từ đầu năm đạt 5,37%, với 23 quỹ sinh lời dương, trong đó 16 quỹ ghi nhận mức tăng từ 5% đến 7%.
Quỹ Đầu tư Trái phiếu VCBF (VCBF-FIF) dẫn đầu với hiệu suất 8,7%. Các quỹ khác có mức sinh lời trên 6% gồm Quỹ Đầu tư Trái phiếu Linh hoạt Mirae Asset Việt Nam (MAFF) đạt 6,66%, Quỹ Đầu tư Trái phiếu Nâng cao VinaCapital (VFF) đạt 6,55% và Quỹ Đầu tư Trái phiếu Bảo Việt (BVBF) đạt 6,54%.
Hiệu suất 24 quỹ trái phiếu dao động từ âm 0,15% đến 8,70%
Kết quả đầu tư giữa các quỹ có sự khác biệt, phụ thuộc vào cơ cấu tài sản, thời hạn nắm giữ và biến động giá trị danh mục. Bên cạnh thu nhập từ lãi trái phiếu và tiền gửi, hiệu suất còn chịu ảnh hưởng từ diễn biến lợi suất thị trường và sự thay đổi giá trị các công cụ nợ đang được nắm giữ.
Dòng vốn rút ròng tập trung tại TCBF và một số quỹ lớn
Trái với kết quả sinh lời, 24 quỹ ghi nhận dòng vốn rút ròng khoảng 7.492 tỷ đồng từ đầu năm đến thời điểm cập nhật. Trong đó, 18 quỹ có dòng vốn ròng âm, 5 quỹ thu hút ròng và 1 quỹ ghi nhận dòng vốn gần như đi ngang.
Quỹ Đầu tư Trái phiếu Techcom (TCBF) ghi nhận mức rút ròng lớn nhất, khoảng 5.328 tỷ đồng, dù hiệu suất từ đầu năm vẫn đạt 5,21%. Quỹ Đầu tư Trái phiếu Gia tăng Thu nhập Cố định DC (DCIP) đứng tiếp theo với 772 tỷ đồng. Quỹ Đầu tư Trái phiếu An Bình (ABBF) bị rút ròng 546 tỷ đồng dù sinh lời 6,38%, trong khi Quỹ Đầu tư Trái phiếu Dòng tiền Linh hoạt MB (MBAM) ghi nhận mức rút ròng 457 tỷ đồng.
Tổng cộng, 4 quỹ trên chiếm khoảng 93,6% tổng giá trị rút ròng của 18 quỹ có dòng vốn âm. Riêng TCBF chiếm hơn 71% mức rút ròng của cả 24 quỹ sau khi bù trừ dòng vốn vào và ra, trong khi NAV đạt khoảng 4.140 tỷ đồng, tương đương gần 40% tổng tài sản ròng của nhóm.
Tỷ trọng rút ròng tại TCBF cao hơn đáng kể so với tỷ trọng tài sản của quỹ trong toàn nhóm. Nếu loại TCBF khỏi phép tính, 23 quỹ còn lại ghi nhận mức rút ròng sau bù trừ khoảng 2.164 tỷ đồng.
TCBF bị rút ròng hơn 5.300 tỷ đồng, chiếm 71,1% mức rút ròng toàn nhóm
Ở chiều ngược lại, Quỹ Đầu tư Trái phiếu Bản Việt (VCAMFI) vẫn thu hút ròng hơn 97 tỷ đồng dù hiệu suất từ đầu năm đạt 4,71%, thấp hơn mức bình quân của 24 quỹ. Diễn biến này phản ánh sự khác biệt giữa kết quả đầu tư và khả năng thu hút vốn tại từng quỹ.
Bên cạnh lợi nhuận, quyết định bán lại chứng chỉ quỹ còn có thể xuất phát từ nhu cầu sử dụng tiền, hiện thực hóa lợi nhuận hoặc điều chỉnh cơ cấu danh mục đầu tư. Vì vậy, một quỹ vẫn có thể duy trì mức sinh lời dương trong khi lượng vốn nhà đầu tư rút ra vượt vốn góp mới.
Lãi suất tiết kiệm 6–7%/năm cạnh tranh với hiệu suất quỹ trái phiếu
Đầu tháng 11, lãi suất tiền gửi trực tuyến kỳ hạn 6 tháng tại nhiều ngân hàng phổ biến trong khoảng 5,5–6,7%/năm, còn kỳ hạn 12 tháng dao động từ 5,6% đến 6,9%/năm. Một số ngân hàng niêm yết mức 7%/năm đối với tiền gửi kỳ hạn 12 tháng.
Dù mặt bằng lãi suất huy động xuất hiện những đợt điều chỉnh giảm vào cuối tháng 10 và đầu tháng 11, mức niêm yết tại nhiều ngân hàng vẫn trên 6%/năm. Ngày 5/11, Techcombank tiếp tục giảm 0,4 điểm phần trăm lãi suất tiền gửi kỳ hạn 6–12 tháng, đưa mức niêm yết theo biểu Phát Lộc Online xuống còn 6,05–6,25%/năm, chưa tính các ưu đãi cộng thêm theo điều kiện. Đây là lần điều chỉnh giảm thứ hai của ngân hàng trong chưa đầy 2 tuần.
Trong khi đó, hiệu suất đầu tư bình quân của 24 quỹ trái phiếu trong 12 tháng gần nhất đạt 6,32%. TCBF ghi nhận mức sinh lời 5,61%, DCIP đạt 6,25%, còn ABBF và VCBF-FIF lần lượt đạt 7,40% và 9,24%.
Tại Techcombank, lãi suất tiền gửi trực tuyến kỳ hạn 12 tháng sau điều chỉnh là 6,25%/năm, cao hơn 0,64 điểm phần trăm so với hiệu suất 12 tháng gần nhất của TCBF. Tuy nhiên, lãi suất niêm yết được áp dụng cho khoản tiền gửi mới, còn hiệu suất chứng chỉ quỹ phản ánh kết quả đầu tư đã thực hiện. Hai chỉ tiêu vì vậy mang ý nghĩa tham chiếu, thay vì thể hiện hiệu quả đầu tư trong cùng một giai đoạn.
Sự khác biệt giữa hai kênh còn nằm ở cách hình thành lợi nhuận. Với tiền gửi có kỳ hạn, người gửi tiền được xác định trước mức lãi theo thỏa thuận nếu duy trì khoản tiền đến ngày đáo hạn. Trong khi đó, giá trị chứng chỉ quỹ trái phiếu biến động theo thu nhập và giá trị tài sản trong danh mục, chịu ảnh hưởng từ lãi suất thị trường, chất lượng tín dụng của tổ chức phát hành và khả năng thanh khoản của các khoản đầu tư.
Khi chênh lệch lợi nhuận kỳ vọng giữa hai kênh không lớn, mức độ ổn định của thu nhập, thời gian đầu tư và nhu cầu sử dụng vốn có thể ảnh hưởng đến quyết định phân bổ tài sản. Nhà đầu tư ưu tiên khoản lãi xác định trước có thêm lựa chọn từ tiền gửi ngân hàng, trong khi những người chấp nhận biến động có thể tiếp tục nắm giữ chứng chỉ quỹ theo mục tiêu tài chính.
Đối với các quỹ mở, hoạt động bán lại chứng chỉ quỹ làm phát sinh nghĩa vụ thanh toán theo lịch giao dịch. Khi dòng vốn rút ròng kéo dài, công ty quản lý quỹ phải cân đối tiền mặt, các khoản đầu tư sắp đáo hạn và khả năng bán tài sản để đáp ứng yêu cầu thanh toán. Việc duy trì nguồn thanh khoản cũng có thể ảnh hưởng đến quy mô vốn phân bổ cho những khoản đầu tư mới có thời hạn dài hơn.
Diễn đàn Đầu tư Việt Nam 2027 (Vietnam Investment Forum 2027)
Thời gian: Ngày 12/11/2026
Địa điểm: Shilla Monogram Hanoi Westlake, số 6 Hoàng Minh Thảo, Tây Hồ Tây, Hà Nội
Là sự kiện thường niên quy tụ các chuyên gia đầu ngành, Diễn đàn Đầu tư Việt Nam 2027 mang đến những góc nhìn chuyên sâu về triển vọng đầu tư và cơ hội trên thị trường năm 2027.
Trong khuôn khổ sự kiện, Ban tổ chức sẽ công bố Best Retail Brokers 2026 - Bảng xếp hạng công ty chứng khoán có dịch vụ bán lẻ tốt nhất thị trường Việt Nam.
Cùng cộng đồng đầu tư đón đầu xu hướng, cập nhật góc nhìn chuyên gia và khám phá cơ hội đầu tư năm 2027.
Bạn cũng sẽ có cơ hội nhận vé mời đặc biệt của BTC khi tham gia khảo sát về triển vọng kinh tế, thị trường tài chính và chiến lược phân bổ tài sản trong năm 2027.
TRỰC TIẾP