Chuyên gia: Dư địa nới lỏng tiền tệ, kích cầu tài khóa để hỗ trợ tăng trưởng đang dần thu hẹp
Phát biểu tại Diễn đàn “Kích hoạt tăng trưởng: Chính sách vi mô đột phá và mục tiêu hai con số” diễn ra sáng 14/7, PGS.TS Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương chỉ ra một thực tế rằng, mặc dù GDP 6 tháng đầu năm 2026 tăng 8,18% - mức cao nhất trong 16 năm qua, song được hỗ trợ nhiều bởi các động lực truyền thống.
Trong khi đó, dư địa của các chính sách vĩ mô truyền thống như nới lỏng tiền tệ quy mô lớn hay kích cầu tài khóa diện rộng đang dần thu hẹp tạo thách thức cho giai đoạn tiếp theo.
Dư địa nới lỏng tiền tệ không còn nhiều
Diễn đàn “Kích hoạt tăng trưởng: Chính sách vi mô đột phá và mục tiêu hai con số”. (Ảnh: Hạ An).
Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tính đến ngày 26/6, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt trên 19,97 triệu tỷ đồng, tăng 7,41% so với cuối năm 2025; tăng 18,1% so với cùng kỳ năm 2025.
Tăng trưởng tín dụng ở mức cao một phần hỗ trợ cho tăng trưởng, tuy nhiên tăng trưởng tín dụng quá nhanh sẽ bộc lộ nhiều hạn chế đối với ổn định kinh tế vĩ mô.
"Vì vậy, động lực tăng trưởng mới cần được tìm kiếm từ các chính sách vi mô - những chính sách tác động trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp và hiệu quả phân bổ nguồn lực", ông Hùng nói.
Do đó, theo chuyên gia, trọng tâm không còn là kích thích tổng cầu một cách đại trà, mà là tháo gỡ các "điểm nghẽn" ở cấp độ doanh nghiệp, ngành và thị trường; tạo môi trường thuận lợi để doanh nghiệp đầu tư, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất.
Đáng chú ý, nền kinh tế còn tồn tại nhiều nghịch lý khiến tiền tệ nới lỏng nhưng không tác động hiệu quả như kỳ vọng.
Ông phân tích, dù doanh nghiệp có nhu cầu vốn rất lớn nhưng khả năng hấp thụ vốn còn hạn chế; quá trình chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ nhưng vẫn vướng mắc về thể chế, dữ liệu và chi phí tuân thủ; nhiều mô hình kinh doanh mới phát triển nhanh hơn tốc độ hoàn thiện của khung pháp lý.
Còn theo GS.TS Lê Văn Lợi, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, mục tiêu tăng trưởng hai con số không chỉ là yêu cầu về quy mô hay tốc độ, mà còn đòi hỏi bước chuyển căn bản về chất lượng thể chế, năng suất, năng lực công nghệ, sức cạnh tranh của doanh nghiệp và hiệu quả phân bổ nguồn lực.
“Tăng trưởng phải được hình thành trên một nền tảng mới: Năng suất cao hơn, doanh nghiệp mạnh hơn, thị trường thông suốt hơn, công nghệ hiện đại hơn và bộ máy thực thi hiệu quả hơn”, GS.TS Lê Văn Lợi nhấn mạnh.
Chuyên gia này cho rằng nền kinh tế khó có thể tăng trưởng nhanh nếu doanh nghiệp vẫn mất quá nhiều thời gian và chi phí cho thủ tục hành chính; vốn chưa chảy tới các dự án có năng suất cao; hay khi đất đai, dữ liệu, công nghệ và nhân lực chưa được sử dụng hiệu quả.
Từ thực tế đó, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đề xuất chuyển mạnh trọng tâm sang cải cách vi mô có tính đột phá, với các cơ chế khuyến khích nghiên cứu - phát triển (R&D), đổi mới công nghệ, tín dụng dựa trên dữ liệu và triển vọng kinh doanh, phát triển thị trường dữ liệu minh bạch cũng như cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đối với các mô hình kinh doanh mới.
Ông cũng nhấn mạnh ba yêu cầu để các đột phá vi mô thực sự trở thành động lực tăng trưởng gồm: Chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển; chuyển từ chính sách bình quân sang chính sách có trọng tâm, trọng điểm; và coi chất lượng thực thi là một bộ phận cấu thành của chính sách.
Nhiều vướng mắc về thuế đã được xử lý
Ở góc độ chính sách tài khóa, ông Nguyễn Văn Phụng, nguyên Vụ trưởng Vụ Quản lý thuế doanh nghiệp lớn (Bộ Tài chính), nhấn mạnh rằng để đạt mức tăng trưởng hai con số như kỳ vọng, việc đổi mới chính sách thuế và hiện đại hóa quản lý thuế không chỉ là yêu cầu cấp thiết mà còn là động lực cốt yếu cho sự bứt phá của cộng đồng doanh nghiệp.
Chỉ ra một số điểm nghẽn trong quy định về thuế, ông Phụng cho biết, doanh nghiệp và người dân còn gặp nhiều khó khăn về thuế. Đối với thuế giá trị gia tăng (GTGT), câu chuyện về "xuất khẩu tại chỗ" là một ví dụ điển hình.
Việc từng áp dụng mức thuế khác 0% cho loại hình này đã gây ra những phản ứng tức thì từ thị trường, khiến việc hoàn thuế GTGT của doanh nghiệp rất khó khăn.
"Rất may, Quốc hội đã lắng nghe và điều chỉnh trở lại mức 0% để phù hợp với thực tế kinh doanh. Ngoài ra, việc không tính thuế GTGT đối với nông sản trong giao dịch giữa các doanh nghiệp (B2B) là một điểm sáng giúp giảm chi phí kê khai và đầu vào cho ngành chế biến", ông đánh giá.
Với thuế tiêu thụ đặc biệt, đề xuất đánh thuế đối với nước giải khát có đường theo tiêu chuẩn Việt Nam đang gây nhiều tranh luận. Các chuyên gia lo ngại về việc xác định rõ chất gây béo phì để tránh đánh nhầm đối tượng, bảo vệ ngành mía đường nội địa và đảm bảo sức khỏe người tiêu dùng.
Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) cũng gây nhiều tranh cãi, Ngưỡng miễn miễn thuế TNCN đối với cá nhân và hộ kinh doanh từ 200 triệu đồng lên 500 triệu đồng cho hộ kinh doanh và sau đó lên 1 tỷ đồng được đánh giá là phù hợp hơn với bối cảnh hiện nay. Tuy nhiên, việc chậm trễ trong điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh cho người làm công ăn lương đang tạo ra áp lực tài chính không nhỏ.
Vị chuyên gia về thuế này nhấn mạnh, thay vì ưu đãi dàn trải, chính sách thuế cần được thiết kế theo hướng có trọng tâm, có thời hạn và có cơ chế đánh giá hiệu quả, tập trung khuyến khích hoạt động nghiên cứu - phát triển (R&D), đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, nâng cao năng suất và phát triển khu vực kinh tế tư nhân.
Đây cũng là cách để nguồn lực tài khóa được phân bổ đúng đối tượng, tạo hiệu ứng lan tỏa lớn hơn cho nền kinh tế, nguyên Vụ trưởng Vụ Quản lý thuế doanh nghiệp lớn nhìn nhận.
TRỰC TIẾP