|
 Thuật ngữ VietnamBiz
Thời sự

Chính sách thuế tài nguyên nhìn từ các nước trên thế giới

20:04 | 18/08/2017
Chia sẻ
Qua nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia có thể thấy rằng chính sách thuế tài nguyên của các nước trên thế giới rất đa dạng và thường không theo một khuôn mẫu chung. Phương pháp đánh thuế và mức thuế suất đối với các loại tài nguyên khác nhau cũng rất khác nhau phụ thuộc vào tầm quan trọng của từng loại tài nguyên cũng như chính sách của Nhà nước đối với việc bảo vệ môi trường và đảm bảo nguồn nguyên liệu cho sản xuất trong nước.
chinh sach thue tai nguyen nhin tu cac nuoc tren the gioi
Chính sách thuế tài nguyên nhìn từ các nước trên thế giới (Ảnh minh họa)

Ở Trung Quốc, sau thành công trong chuyển đổi phương thức tính thuế tài nguyên đối với dầu thô và khí từ phương thức tính thuế dựa trên sản lượng sang phương thức tính thuế dựa trên doanh thu, tháng 10/2014, Trung Quốc cũng đã điều chỉnh thuế suất thuế tài nguyên đối với than cốc và các loại than khác có hiệu lực từ 1/12/2015, với thuế suất từ 2-10% doanh thu, mức thuế suất sẽ được chính quyền cấp tỉnh quyết định, phụ thuộc từng khu vực.

Đến năm, năm 2016, chính phủ Trung Quốc đã thực hiện chương trình cải cách đồng bộ phương thức tính thuế tài nguyên từ phương thức thu thuế theo mức tuyệt đối sang thu theo tỷ lệ phần trăm trên hầu hết các sản phẩm khoáng sản, trừ đất sét và đá sa thạch, có hiệu lực kể từ 01/7/2016.

Tại Indonesia - nước có ngành công nghiệp khai thác khoáng sản khá phát triển là quốc gia xuất khẩu than nhiệt, thiếc lớn nhất thế giới và cũng là một trong những nước sản xuất niken hàng đầu. Quốc gia này cũng là một trong những nước xuất khẩu than lớn nhất thế giới.

Từ năm 2009, Indonesia tăng thuế xuất khẩu lên 20%, tiến tới cấm hoàn toàn xuất khẩu tài nguyên thô vào năm 2014 nhằm đảm bảo nguyên liệu cho sản xuất trong nước và hạn chế khai thác để bảo vệ môi trường.

Ngoài việc phải nộp các khoản thuế thông thường, doanh nghiệp khai thác tài nguyên tại Indonesia phải nộp thuế khai thác tài nguyên theo doanh thu cho chính quyền trung ương. Thuế suất thuế tài nguyên của Indonesia khá đa dạng và tùy thuộc vào từng loại khoáng sản. Hiện nay Indonesia có 66 loại khoáng sản chịu thuế tài nguyên.

Ngoài Trung quốc và Indonesia, Úc là quốc gia có trữ lượng tài nguyên tương đối phong phú, là quốc gia có trữ lượng lớn nhất thế giới về than nâu, chì, cát khoáng, niken, uranium, và thiếc; đồng thời cũng là quốc gia có trữ lượng lớn thứ hai thế giới về bauxit, đồng, vàng, quặng sắt và bạc.

Thuế tài nguyên ở Úc bao gồm cả thuế liên bang và các loại thuế tài nguyên do các bang quy định và thu. Thuế tài nguyên ở Úc được áp dụng đối với các loại tài nguyên quan trọng như khoáng sản kim loại, quặng sắt, dầu thô, than. Cụ thể như sau:

Ở cấp bang, thuế tài nguyên được thu theo hai phương thức: tỷ lệ phần trăm và mức thu tuyệt đối, tuỳ theo loại tài nguyên và chính sách của từng địa phương. Có địa phương áp dụng chính sách thu dựa trên lợi nhuận có được. Đối với mức thu theo tỷ lệ phần trăm: mức thuế suất nằm trong khoảng từ 2,5% đến 18% (mức 18% được tính trên cơ sở lợi nhuận có được). Phần lớn các địa phương áp dụng mức thuế suất trong khoảng từ 2,5% đến 7,5%, tuỳ theo loại tài nguyên. Mức thuế suất có thể xác định theo đặc điểm mỏ, ví dụ khai thác tài nguyên lộ thiên có mức thuế suất cao hơn so với khai thác dưới đất. Cơ sở tính thuế là giá trị tài nguyên khai thác.

Ở cấp liên bang, từ năm 2012, Úc đưa vào áp dụng thêm một số chính sách thu từ tài nguyên và mức thu được tính trên thu nhập chịu thuế và tài nguyên chịu thuế là các loại khoáng sản và dầu khí. Cụ thể như sau:

(i) Thuế khai thác tài nguyên (Minerals Resource Rent Tax - MRRT:Thuế khai thác tài nguyên (MRRT) ở Úc có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2012. Người nộp thuế là người khai thác tài nguyên không tái tạo. Đối tượng chịu thuế khai thác tài nguyên là quặng sắt và than được khai thác dưới mọi hình thức. Mức thuế suất đối với quặng sắt và than là 30% tính trên thu nhập chịu thuế.

(ii) Thuế khai thác dầu khí (Petroleum Resource Rent Tax - PRRT): Thuế khai thác dầu khí tại Úc được áp dụng từ năm 1987 là thuế đánh vào lợi nhuận của các dự án khai thác dầu khí ngoài khơi. Từ ngày 1/7/2012, thuế khai thác dầu khí được áp dụng đối với cả các dự án khai thác dầu khí trên đất liền, trừ dự án liên doanh khai thác dầu khí trên vùng biển Ti-mo. Mức thuế suất là 40%. Lợi nhuận tính thuế là lợi tức từ bán dầu hoặc sản phẩm hóa dầu trừ các khoản chi về vốn và các khoản chi liên quan trực tiếp đến dự án.

chinh sach thue tai nguyen nhin tu cac nuoc tren the gioi Sửa đổi, bổ sung phù hợp với thực tiễn khai thác tài nguyên theo từng giai đoạn

Luật thuế Tài nguyên là một trong 5 Luật thuế dự kiến được Chính phủ xem xét đưa vào diện sửa đổi, bổ sung lần ...

chinh sach thue tai nguyen nhin tu cac nuoc tren the gioi Sau 1 năm, Bộ Tài chính lại đòi sửa cả loạt luật thuế

Bộ Tài chính đang muốn sửa hàng loạt luật thuế như Luật Thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thu nhập cá ...

chinh sach thue tai nguyen nhin tu cac nuoc tren the gioi Bộ Tài chính bác đề xuất giảm thuế cho ngành than

Bộ Tài chính đã có văn bản từ chối giảm thuế tài nguyên cho ngành than mà Tập đoàn Công nghiệp than-khoáng sản (TKV) đề ...


Diễn đàn Đầu tư Việt Nam 2027 (Vietnam Investment Forum 2027)

Thời gian: Ngày 12/11/2026
Địa điểm: Shilla Monogram Hanoi Westlake, số 6 Hoàng Minh Thảo, Tây Hồ Tây, Hà Nội

Là sự kiện thường niên quy tụ các chuyên gia đầu ngành, Diễn đàn Đầu tư Việt Nam 2027 mang đến những góc nhìn chuyên sâu về triển vọng đầu tư và cơ hội trên thị trường năm 2027.

Trong khuôn khổ sự kiện, Ban tổ chức sẽ công bố Best Retail Brokers 2026 - Bảng xếp hạng công ty chứng khoán có dịch vụ bán lẻ tốt nhất thị trường Việt Nam.

Cùng cộng đồng đầu tư đón đầu xu hướng, cập nhật góc nhìn chuyên gia và khám phá cơ hội đầu tư năm 2027.

Bạn cũng sẽ có cơ hội nhận vé mời đặc biệt của BTC khi tham gia khảo sát về triển vọng kinh tế, thị trường tài chính và chiến lược phân bổ tài sản trong năm 2027.

PV

Chân dung hai diễn giả trong phiên Fireside Chat lần đầu tiên tại Vietnam Investment Forum 2027
Khi dòng vốn quốc tế ngày càng có nhiều lựa chọn, việc Việt Nam trở thành điểm đến đầu tư không chỉ phụ thuộc vào triển vọng tăng trưởng hay câu chuyện nâng hạng thị trường. Khả năng tiếp cận, quản trị rủi ro, mở rộng quy mô giải ngân và thu hồi vốn cũng là những yếu tố quyết định mức độ sẵn sàng của các nhà đầu tư tổ chức.