|
 Thuật ngữ VietnamBiz
Chứng khoán

Góc nhìn của Phó Chủ tịch UBCKNN: Doanh nghiệp Việt Nam cần chuẩn bị gì để niêm yết, huy động vốn quốc tế?

10:00 | 18/06/2026
Chia sẻ
Theo Phó Chủ tịch UBCKNN Bùi Hoàng Hải, các doanh nghiệp muốn tiếp cận nhà đầu tư quốc tế cần đầu tư sớm vào quản trị doanh nghiệp, công bố thông tin, báo cáo tài chính, hoạt động quan hệ nhà đầu tư, truyền thông bằng tiếng Anh, công bố thông tin ESG khi phù hợp và khả năng trình bày rõ ràng chiến lược phát triển dài hạn.

Phó Chủ tịch UBCKNN Bùi Hoàng Hải phát biểu tại hội thảo. Ảnh: SSI.

Nâng hạng và nỗ lực phát triển nền tảng hạ tầng, kỹ thuật trên TTCK Việt Nam

Tại Hội thảo Vietnam Global Capital Access: Overseas Listings, DRs and the IFC do CTCP Chứng khoán SSI tổ chức sáng nay (18/6), ông Bùi Hoàng Hải, Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), cho rằng việc Việt Nam được FTSE Russell nâng hạng lên nhóm thị trường mới nổi thứ cấp (Secondary Emerging Market) là kết quả của nhiều năm nỗ lực cải cách nhằm nâng cao khả năng tiếp cận của nhà đầu tư quốc tế đối với thị trường vốn Việt Nam.

"Thành quả này phản ánh nhiều năm nỗ lực của các cơ quan quản lý, các sở giao dịch, các thành viên thị trường, doanh nghiệp niêm yết và các đối tác quốc tế. Đặc biệt, một nguyên tắc cốt lõi mà FTSE Russell nhiều lần nhấn mạnh chính là khả năng tiếp cận (access): nâng cao khả năng tiếp cận thị trường vốn Việt Nam của nhà đầu tư quốc tế theo hướng minh bạch, hiệu quả và đáng tin cậy", ông Hải chia sẻ.

Tuy nhiên, theo đại diện UBCKNN, việc được nâng hạng không phải là điểm kết thúc của quá trình cải cách. "Chúng ta không nên xem cột mốc này là điểm kết thúc của quá trình cải cách, mà là sự khẳng định rằng Việt Nam đang chuyển sang một giai đoạn phát triển mới", ông nói.

Ông Hải cho biết khi thị trường Việt Nam ngày càng được các tổ chức đầu tư toàn cầu quan tâm, kỳ vọng của nhà đầu tư cũng sẽ gia tăng. Bên cạnh khả năng tiếp cận thị trường, các tổ chức đầu tư sẽ đánh giá chất lượng công bố thông tin, tiêu chuẩn quản trị doanh nghiệp, hạ tầng thanh toán bù trừ, hoạt động quan hệ nhà đầu tư và khả năng truyền tải chiến lược dài hạn của doanh nghiệp.

Theo ông, nguyên tắc về khả năng tiếp cận cần được nhìn nhận theo cả hai chiều. Nếu nhà đầu tư quốc tế cần được tạo điều kiện thuận lợi hơn để tiếp cận thị trường Việt Nam thì các doanh nghiệp trong nước cũng cần có thêm cơ hội tiếp cận các nguồn vốn quốc tế dài hạn.

Trong bối cảnh đó, niêm yết song song, ADR(Chứng chỉ lưu ký Mỹ), GDR (Chứng chỉ lưu ký toàn cầu) và sự phát triển của Trung tâm Tài chính Quốc tế cần được xem là một phần trong chương trình cải cách rộng lớn hơn nhằm kết nối doanh nghiệp Việt Nam với nguồn vốn toàn cầu, đồng thời nâng cao chiều sâu, tính minh bạch và uy tín của thị trường trong nước.

Ông Hải cho biết bên cạnh quá trình nâng hạng thị trường, Việt Nam cũng đang triển khai nhiều cải cách mang tính kỹ thuật như hệ thống KRX, mô hình Global Broker, các giải pháp không yêu cầu ký quỹ trước (non-prefunding solutions) và định hướng phát triển cơ chế đối tác bù trừ trung tâm (CCP) trong tương lai.

Tuy nhiên, theo Phó Chủ tịch UBCKNN, những cải cách này không nên được nhìn nhận riêng lẻ mà đều nằm trong định hướng chính sách tổng thể nhằm giúp thị trường Việt Nam trở nên minh bạch hơn, hiệu quả hơn, dễ tiếp cận hơn đối với các nhà đầu tư tổ chức và hỗ trợ tốt hơn cho mục tiêu tăng trưởng của doanh nghiệp.

"Mục tiêu của cải cách thị trường không chỉ là cải thiện hoạt động giao dịch. Mục tiêu của cải cách là nâng cao khả năng huy động vốn", lãnh đạo UBCKNN nhấn mạnh.

Bày tỏ quan điểm về vai trò của nền tảng công nghệ thị trường, theo ông Bùi Hoàng Hải, các hệ thống giao dịch hiện đại giúp nâng cao hiệu quả vận hành, thanh khoản và phát triển sản phẩm mới; các cơ chế tiếp cận thị trường tốt hơn giúp gia tăng niềm tin của nhà đầu tư quốc tế; trong khi những cải tiến trong hệ thống thanh toán và hạ tầng hậu giao dịch góp phần giảm rủi ro vận hành và đưa thị trường Việt Nam tiệm cận các chuẩn mực quốc tế.

"Những cải cách này có thể mang tính kỹ thuật, nhưng mục tiêu chính sách của chúng rất thực tế, giúp dòng vốn đến với các doanh nghiệp Việt Nam một cách dễ dàng hơn, an toàn hơn và hiệu quả hơn".

Hội thảo Vietnam Global Capital Access: Overseas Listings, DRs and the IFC do CTCP Chứng khoán SSI tổ chức sáng nay (18/6). Ảnh: SSI.

Doanh nghiệp Việt Nam cần chuẩn bị gì để tiếp cận nguồn vốn quốc tế?

Bên cạnh những vấn đề kể trên, đại diện UBCKNN cũng cho rằng khả năng tiếp cận nguồn vốn không chỉ là câu chuyện của hạ tầng thị trường mà còn phụ thuộc vào chính doanh nghiệp. Các nhà đầu tư toàn cầu thường tìm kiếm những doanh nghiệp có chiến lược rõ ràng, báo cáo tài chính đáng tin cậy, quản trị doanh nghiệp tốt, hoạt động quan hệ nhà đầu tư chuyên nghiệp và khả năng giao tiếp nhất quán với cổ đông.

"Nguồn vốn toàn cầu luôn đi theo niềm tin", ông Hải nhấn mạnh.

Góc nhìn từ vị lãnh đạo UBCKNN, niềm tin được xây dựng từ sự minh bạch, quản trị tốt, hiệu quả hoạt động và khả năng truyền thông với nhà đầu tư. Điều này càng trở nên quan trọng khi ngày càng nhiều doanh nghiệp Việt Nam cân nhắc các kênh huy động vốn và tiếp cận nhà đầu tư quốc tế.

Liên quan đến ADR, GDR và các cấu trúc chứng chỉ lưu ký khác, ông Bùi Hoàng Hải cho biết đây là những công cụ có thể giúp doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận nhóm nhà đầu tư quốc tế rộng lớn hơn, gia tăng mức độ nhận diện, hỗ trợ thanh khoản và tạo cầu nối với thị trường vốn toàn cầu.

"Chứng chỉ lưu ký có thể đóng vai trò là một cầu nối quan trọng. Chúng cho phép nhà đầu tư quốc tế tiếp cận doanh nghiệp Việt Nam thông qua hệ thống hạ tầng thị trường quen thuộc, đồng thời giúp doanh nghiệp Việt Nam xây dựng mức độ nhận diện và uy tín đối với nhà đầu tư toàn cầu", ông nói.

Tuy nhiên, ông lưu ý đây không phải là "con đường tắt" để huy động vốn quốc tế. Các doanh nghiệp muốn triển khai cần đáp ứng những yêu cầu cao hơn về công bố thông tin, quản trị doanh nghiệp, truyền thông với nhà đầu tư, chuẩn mực kế toán và tính minh bạch trong việc sử dụng nguồn vốn huy động.

Các nội dung như niêm yết ở nước ngoài, ADR, GDR hay Trung tâm Tài chính Quốc tế không nên được xem là những chủ đề tách biệt khỏi chương trình cải cách thị trường vốn trong nước. "Chúng là tầng phát triển tiếp theo của cùng một chiến lược", ông nói.

Phó Chủ tịch UBCKNN cho rằng một thị trường trong nước vững mạnh sẽ giúp doanh nghiệp Việt Nam nâng cao uy tín, việc cải thiện khả năng tiếp cận của nhà đầu tư nước ngoài sẽ mang lại thanh khoản lớn hơn và sự tham gia sâu hơn của các tổ chức đầu tư. Trong khi các kênh tiếp cận thị trường vốn quốc tế có thể giúp các doanh nghiệp hàng đầu tiếp cận những nguồn vốn dài hạn với quy mô lớn hơn.

Đề cập đến định hướng xây dựng Trung tâm Tài chính Quốc tế (IFC), ông Hải cho rằng đây không chỉ là nơi tập trung các định chế tài chính nước ngoài hay các sản phẩm tài chính mới mà phải được xây dựng trên nền tảng niềm tin, hạ tầng, khuôn khổ pháp lý, tiêu chuẩn thị trường và hệ sinh thái dịch vụ chuyên nghiệp, cho phép dòng vốn lưu chuyển hiệu quả và an toàn.

Trung tâm Tài chính Quốc tế có thể đóng vai trò kết nối nguồn tiết kiệm trong nước, doanh nghiệp Việt Nam, nhà đầu tư quốc tế, các định chế tài chính khu vực và thị trường vốn toàn cầu. Trung tâm này có thể hỗ trợ sự phát triển của các sản phẩm mới, tăng cường sự tham gia của các nhà đầu tư tổ chức và củng cố mối liên kết giữa Việt Nam với hệ thống tài chính quốc tế.

Tuy nhiên, việc tiếp cận thị trường quốc tế cần mang tính bổ trợ thay vì thay thế vai trò của thị trường vốn trong nước. "Mục tiêu của chúng ta không phải là khuyến khích doanh nghiệp Việt Nam rời bỏ thị trường trong nước. Mục tiêu của chúng ta là tạo thêm nhiều lựa chọn, nhiều kênh tiếp cận và nhiều cơ hội hơn", ông nói.

Một vị thế niêm yết vững chắc trong nước, thanh khoản nội địa tốt và mối quan hệ bền vững với nhà đầu tư Việt Nam có thể trở thành nền tảng cho việc tiếp cận thị trường quốc tế. Ngược lại, sự tham gia của nhà đầu tư quốc tế cũng có thể góp phần nâng cao tiêu chuẩn thị trường, tăng độ phủ phân tích, củng cố quản trị doanh nghiệp và hỗ trợ quá trình định giá hiệu quả hơn.

Gửi thông điệp tới cộng đồng doanh nghiệp, ông Hải cho rằng khả năng tiếp cận nguồn vốn toàn cầu cần bắt đầu từ sự chuẩn bị.

"Khả năng tiếp cận nguồn vốn toàn cầu bắt đầu từ sự chuẩn bị", ông nhấn mạnh.

Theo đó, các doanh nghiệp muốn tiếp cận nhà đầu tư quốc tế cần đầu tư sớm vào quản trị doanh nghiệp, công bố thông tin, báo cáo tài chính, hoạt động quan hệ nhà đầu tư, truyền thông bằng tiếng Anh, công bố thông tin ESG khi phù hợp và khả năng trình bày rõ ràng chiến lược phát triển dài hạn.

Theo đại diện UBCKNN, mục tiêu cuối cùng không chỉ là giúp doanh nghiệp huy động vốn ở nước ngoài mà là xây dựng một hệ sinh thái thị trường vốn nơi các doanh nghiệp Việt Nam có thể đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế, tiếp cận nhà đầu tư toàn cầu, đồng thời tiếp tục đóng góp vào chiều sâu, tính minh bạch và sức mạnh của chính thị trường Việt Nam.

Thuỳ Linh

Góc nhìn của Phó Chủ tịch UBCKNN: Doanh nghiệp Việt Nam cần chuẩn bị gì để niêm yết, huy động vốn quốc tế?
Theo Phó Chủ tịch UBCKNN Bùi Hoàng Hải, các doanh nghiệp muốn tiếp cận nhà đầu tư quốc tế cần đầu tư sớm vào quản trị doanh nghiệp, công bố thông tin, báo cáo tài chính, hoạt động quan hệ nhà đầu tư, truyền thông bằng tiếng Anh, công bố thông tin ESG khi phù hợp và khả năng trình bày rõ ràng chiến lược phát triển dài hạn.