|
 Thuật ngữ VietnamBiz
Hàng hóa

Giá cà phê hôm nay 29/6: Hợp đồng giao kỳ hạn gần tăng vọt do nguồn cung khan hiếm?

06:54 | 29/06/2026
Chia sẻ
Giá cà phê trên các sàn giao dịch đồng loạt tăng mạnh ở hợp đồng giao tháng 7 so với kỳ hạn tháng 9, cho thấy nguồn cung ngắn hạn vẫn đang ở trạng thái thắt chặt.

Cập nhật giá cà phê thế giới

Trên sàn London, giá cà phê trực tuyến robusta hợp đồng giao kỳ hạn tháng 7/2026 tăng vọt 4,9% (177 USD/tấn) trong tuần trước, lên mức 3.817 USD/tấn. Hợp đồng giao kỳ hạn tháng 9/2026 chỉ tăng nhẹ 1% (35 USD/tấn), đạt 3.627 USD/tấn.

Trên sàn giao dịch New York, giá cà phê arabica giao kỳ hạn tháng 7/2026 cũng tăng mạnh 4,2% (11,7 US cent/pound) trong tuần trước, lên mức 286,75 US cent/pound. Hợp đồng giao tháng 9/2026 tăng 2% (5,4 US cent/pound), đạt 273,2 US cent/pound.

Những cơn mưa gần đây liên quan đến hiện tượng El Niño tại Brazil – quốc gia sản xuất cà phê lớn nhất thế giới – đã gây ra một số vấn đề về chất lượng hạt cà phê và làm chậm tiến độ thu hoạch.

Trong khi đó, tính đến ngày 26/6, lượng cà phê arabica được ICE chứng nhận tồn kho đã giảm xuống còn 382.084 bao, mức thấp nhất trong 2,25 năm.

Lượng tồn kho cà phê robusta trên ICE giảm xuống 3.631 lô vào ngày 15/5, mức thấp nhất trong 2 năm, sau đó đã tăng lên 4.032 vào ngày 18/6, mức cao nhất trong khoảng 2,25 tháng. Tuy nhiên, đây vẫn là mức thấp trong lịch sử.

Theo Comunicaffe, báo cáo mới đây của Liên đoàn Cà phê châu Âu (ECF) cho biết, Liên minh châu Âu (EU) tiêu thụ gần một phần tư (24%) lượng cà phê của thế giới, qua đó khẳng định vị thế là thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất toàn cầu. Để đáp ứng nhu cầu của ngành, trong năm 2025, EU đã nhập khẩu 2,9 triệu tấn cà phê nhân và cà phê đã rang từ các quốc gia ngoài EU, tương đương 48,3 triệu bao, với tổng trị giá 18,7 tỷ euro.

Brazil và Việt Nam tiếp tục là hai nhà cung cấp cà phê lớn nhất cho EU, lần lượt chiếm 34,2% (hơn 1 triệu tấn) và 20% (587.000 tấn) tổng lượng nhập khẩu.

Các nhà cung cấp lớn khác gồm có Uganda (8,9%), Colombia (5,5%), Honduras (4,6%), Ethiopia (4,5%), Ấn Độ (3,8%) và Indonesia (3,7%). Tám quốc gia này chiếm khoảng 85% tổng lượng cà phê nhập khẩu của EU.

Lượng cà phê nhân nhập khẩu của EU tăng từ 2,8 triệu tấn năm 2020 lên 2,81 triệu tấn năm 2021, đạt đỉnh 2,97 triệu tấn năm 2022, sau đó giảm xuống 2,67 triệu tấn năm 2023, tăng trở lại lên 2,92 triệu tấn năm 2024 và giảm nhẹ xuống 2,86 triệu tấn năm 2025.

Đà tăng mạnh của giá cà phê trong những năm gần đây đã khiến giá trị nhập khẩu tăng vọt, từ 5,8 tỷ euro năm 2020 lên 6,5 tỷ euro năm 2021, 11,1 tỷ euro năm 2022, giảm xuống 9 tỷ euro năm 2023, sau đó tăng lên 12 tỷ euro năm 2024 và đạt 17 tỷ euro năm 2025.

EU chủ yếu nhập khẩu cà phê nhân chưa khử caffeine, chiếm 96,3% tổng lượng nhập khẩu trong năm 2025. Nhóm sản phẩm lớn thứ hai là cà phê rang chưa khử caffeine, chiếm 2,3%. Tiếp theo là cà phê nhân đã khử caffeine (chiếm 0,6%), chiết xuất, tinh chất và cà phê hòa tan (chiếm 0,6%), cà phê rang đã khử caffeine (chiếm 0,2%)

Theo báo cáo, hoạt động nhập khẩu cà phê vào EU27 tập trung tại một số ít quốc gia thành viên.

Đức và Italy tiếp tục là hai quốc gia nhập khẩu cà phê lớn nhất. Cùng với Tây Ban Nha, Bỉ, Hà Lan và Pháp, sáu quốc gia này chiếm gần 90% tổng lượng cà phê nhập khẩu từ ngoài EU.

Báo cáo lưu ý rằng các số liệu này phản ánh quốc gia ghi nhận hoạt động nhập khẩu, chứ không nhất thiết là nơi cà phê được chế biến hoặc tiêu thụ cuối cùng. Nhiều lô hàng đi qua các trung tâm logistics lớn trước khi được vận chuyển tiếp trong thị trường chung châu Âu.

Điều này đặc biệt đúng với Hà Lan, nơi được Eurostat gọi là "hiệu ứng Rotterdam" khiến lượng nhập khẩu có thể bị ghi nhận cao hơn thực tế. Theo đó, hàng hóa từ ngoài EU khi cập cảng Rotterdam được thống kê là hàng nhập khẩu của Hà Lan trước khi được tái xuất sang các quốc gia thành viên khác. Tình trạng tương tự cũng có thể xảy ra ở các nền kinh tế cảng biển khác tại châu Âu, với mức độ khác nhau.

Hoàng Hiệp

Chính phủ yêu cầu NHNN nghiên cứu tăng nguồn thanh khoản cho hệ thống ngân hàng từ tiền gửi Kho bạc
Chính phủ yêu cầu NHNN trong năm 2026 tiếp tục nghiên cứu nâng tỷ lệ tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước tại các ngân hàng thương mại vào nguồn vốn huy động của các ngân hàng thương mại để bổ sung thanh khoản cho hệ thống ngân hàng.