Doanh nghiệp nhỏ xoay xở giữa 'bão' khó khăn
Công ty kinh doanh vật liệu xây dựng (sắt, thép, inox...) của ông Hồng đang trong giai đoạn thử thách nhất kể từ khi thành lập. Doanh thu hằng tháng của công ty chỉ còn 10-20% so với trước Covid-19. Trong khi đó, hầu hết chi phí leo thang. Giá xăng dầu gần đây hạ nhiệt, nhưng lương bổng tài xế, bảo dưỡng xe cộ, phụ phí... đều không giảm. Một chuyến hàng từ Cát Lái đến Bình Dương cũ đang "ngốn" 3,5-3,8 triệu đồng, gấp rưỡi so với năm 2025.
Vài tháng trước, ông muốn đóng cửa công ty, nhưng tiếc công xây dựng hơn 17 năm nên gắng gượng hoạt động cầm chừng. Quy mô thu hẹp, mọi chi phí không thiết yếu được cắt giảm. Ông bỏ kho riêng, chỉ giữ văn phòng. Khi có đơn, nhân viên lấy hàng trực tiếp từ đầu mối để giao tới khách.
Ông không vay ngân hàng do áp lực lãi suất cao và yêu cầu nhiều tài sản thế chấp. Để đảm bảo vốn quay vòng nhanh, thu tiền ngay là ưu tiên hàng đầu của công ty, thay vì bán chịu. Theo ông, các đơn hàng công nghiệp có biên lợi nhuận chỉ 2-3% nên để khách trả chậm, công ty phải gánh thêm chi phí và rủi ro công nợ kéo dài.
"Bây giờ công ty cầm cự hoạt động, còn tích lũy để tái đầu tư gần như không có", ông Hồng nói.
Với ông Phạm Quang Anh, Giám đốc Công ty TNHH May mặc Dony, chìa khóa sinh tồn qua "bão lớn" nằm ở việc giảm lệ thuộc vào thị trường truyền thống.
Trước đây, xuất khẩu của công ty đóng góp gần 90% doanh thu. Điều này như con dao hai lưỡi, có thời điểm giúp công ty tăng trưởng nhanh, nhưng cũng khiến họ dễ tổn thương khi thị trường khó khăn do xung đột địa chính trị, chính sách thương mại thay đổi, chi phí đầu vào tăng vọt...
Một năm qua, ông Quang Anh rốt ráo tái cơ cấu. "Chúng tôi không ưu tiên tuyệt đối đơn hàng xuất khẩu như trước, mà dành nhiều ưu đãi hơn về giá, tiến độ giao hàng và dịch vụ để hút khách nội địa", ông nói. Doanh thu trong nước nhờ đó nhích dần, hiện đóng góp hơn 20%, bù đắp sụt giảm của đơn hàng xuất khẩu.
Công nhân làm việc tại công ty may mặc Dony (xã Vĩnh Lộc A, TP HCM) của ông Phạm Quang Anh. Ảnh: Quỳnh Trần
Song, không phải doanh nghiệp nào cũng còn nguồn lực như ông Hồng hay đủ dư địa tái cơ cấu thị trường như Dony. Bà Yến, chủ một công ty phân phối thực phẩm đặc sản ở phường Đông Hưng Thuận (TP HCM), chọn xoay xở bằng cách thay đổi hẳn mô hình kinh doanh lẫn loại hình doanh nghiệp.
Trái ngược kỳ vọng vào guồng ổn định sau 2-3 năm đầu, cửa hàng của bà Yến ngày càng ế ẩm khi khách thắt lưng buộc bụng và chuyển sang mua sắm trực tuyến. Doanh số năm ngoái giảm trên 50%, còn chi phí vận hành, thuê mặt bằng đều đặn tăng 10-15% và chưa có dấu hiệu dừng lại.
Sau nhiều lần cân nhắc, bà trả mặt bằng, chuyển sang bán lẻ trên các nền tảng trực tuyến để giảm áp lực chi phí cố định. Bà cẩn trọng với từng lô hàng mới, chấp nhận có lúc đứt hàng để tránh tồn kho dài ngày. Về thủ tục, bà thông báo tạm ngừng kinh doanh pháp nhân công ty nhằm bớt áp lực thuế, thủ tục hành chính và rủi ro tuân thủ.
"Thời gian tới, tôi sẽ xuống cấp thành hộ kinh doanh", bà Yến dự tính.
Công ty của bà Yến nằm trong 155.000 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường 7 tháng đầu năm nay. Con số này tăng gần 8% so với cùng kỳ năm ngoái. Hơn phân nửa trong số đó chọn tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, còn lại chờ giải thể và đã hoàn tất thủ tục giải thể.
Cục Thống kê (Bộ Tài chính) nhận định số liệu thể hiện một bộ phận doanh nghiệp vẫn đối mặt nhiều khó khăn và sức chống chịu hạn chế, nhất là nhóm quy mô nhỏ và năng lực tài chính yếu.
Khó khăn lớn nhất, theo báo cáo Kinh tế tư nhân do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phát hành hồi tháng 5, nằm ở việc tìm kiếm khách hàng. Nhu cầu tại các thị trường xuất khẩu hồi phục chậm, còn sức mua nội địa cũng yếu, làm tăng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng một phân khúc khách hàng. Doanh nghiệp nhỏ còn bị bủa vây bởi hàng loạt chi phí đầu vào và logistics tăng, dẫn tới biên lợi nhuận ngày càng mỏng.
Các chính sách hỗ trợ hiện nay bao phủ cả ngắn hạn như giảm chi phí, trung hạn như kết nối thị trường và dài hạn là tận dụng FTA. Tuy nhiên, hiệu quả triển khai được VCCI nhận xét còn hạn chế, nhất là khâu phổ biến đến doanh nghiệp.
Tiếp cận vốn cũng là điểm nghẽn, tạo áp lực lớn cho doanh nghiệp trong lúc chi phí nguyên vật liệu và logistics không ngừng nhích lên. Hệ thống tín dụng vẫn phụ thuộc nặng vào tài sản thế chấp, còn các điều kiện vay và chi phí vốn chưa phù hợp với doanh nghiệp tư nhân.
"Ngân hàng và tổ chức tài chính có xu hướng chọn lọc khách hàng hoạt động đủ lâu, với gần 85% doanh nghiệp vừa và nhỏ vay vốn hoạt động trên 5 năm", nhóm phân tích FiinGroup viết trong báo cáo công bố trung tuần tháng 8.
Theo GS. TS Võ Xuân Vinh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu kinh doanh (Đại học Kinh tế TP HCM), số lượng doanh nghiệp rút lui tăng thể hiện quy luật thanh lọc tất yếu của thị trường. Khoảng 90% doanh nghiệp rút lui có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng - nhóm có khả năng chống chịu thấp và dễ tổn thương trước biến động kinh tế. Hầu hết thuộc lĩnh vực thương mại, dịch vụ, bán buôn và bán lẻ, nơi rào cản gia nhập thấp, nhưng cạnh tranh gay gắt từ các nền tảng bán hàng trực tuyến.
Tuy nhiên, ông Vinh nhấn mạnh tín hiệu tích cực là phần lớn chọn tạm ngừng kinh doanh có thời hạn. Điều này cho thấy họ chưa rời bỏ hoàn toàn thị trường, mà có thể đang tái cơ cấu và tìm cơ hội quay lại.
Thực tế, số lượng doanh nghiệp "hồi sinh" trong 12 tháng gần nhất xấp xỉ 150.000, vượt xa mức tạm ngừng kinh doanh có thời hạn. Bên cạnh đó, số lượng đăng ký mới cũng trên đà tăng, đạt hơn 19.000 doanh nghiệp mỗi tháng.
Giới chuyên gia nhìn nhận có nhiều giải pháp để đưa doanh nghiệp "chết lâm sàng" quay lại thị trường và hỗ trợ những người đang ấp ủ kế hoạch khởi sự kinh doanh.
Ông Tô Hoài Nam, Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa, cho rằng nhóm doanh nghiệp này có khả năng phục hồi nhanh nếu được hỗ trợ đúng lúc, đúng cách. Nhà điều hành cần hạ chi phí thông qua giảm lãi suất vay, chi phí tuân thủ, đơn giản hóa thủ tục về đất đai, đầu tư, hải quan và thuế.
Theo ông Nam, cần tăng khả năng tiếp cận vốn bằng cách đẩy nhanh các quỹ bảo lãnh tín dụng, tạo điều kiện vay vốn nhanh hơn, tăng hạn mức tín dụng cho dự án đổi mới công nghệ và chuyển đổi số. Ngoài kích cầu, hỗ trợ xuất khẩu, cơ quan quản lý cần đồng hành với doanh nghiệp trong chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và ổn định môi trường pháp lý, hạn chế chồng chéo pháp luật, tăng tính tiên liệu của chính sách.
VCCI cũng có nhiều kiến nghị tương tự nhằm tăng sức chống chịu cho doanh nghiệp. Tổ chức này đề xuất đẩy nhanh chuyển đổi mô hình cho vay, từ phụ thuộc tài sản thế chấp sang dựa trên dòng tiền, phương án kinh doanh và chuỗi giá trị. Ngân hàng Nhà nước cần hướng dẫn tiêu chí thẩm định tín dụng phi tài sản, đồng thời mở rộng phạm vi tài sản bảo đảm sang vô hình và hình thành trong tương lai.
Các chương trình hỗ trợ kết nối chuỗi cung ứng và mở rộng thị trường được đề xuất thiết kế riêng cho từng ngành, nhóm đối tượng cụ thể, thay vì áp dụng đại trà. Nếu làm tốt, điều này có thể gỡ nút thắt hiện hữu của nhiều doanh nghiệp là không tìm được khách hàng mới.
"Thách thức lớn nhất hiện nay không nằm ở việc thiếu công cụ chính sách, mà ở khoảng cách giữa thiết kế chính sách và khả năng tiếp cận, thực thi trên thực tế", nhóm biên soạn báo cáo Kinh tế tư nhân của VCCI viết.
Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho khu vực hộ kinh doanh - "hạt giống" để trở thành doanh nghiệp - cũng được giới chuyên gia nhấn mạnh là một trong những giải pháp cần ưu tiên. Thay vì áp dụng bình quân, chính sách hỗ trợ cần phân tầng theo đặc điểm từng nhóm hộ kinh doanh. Ví dụ, nhóm coi hộ kinh doanh là nguồn sinh kế duy nhất nên được ưu tiên trong các chính sách giảm sốc. Nhóm siêu nhỏ và dễ tổn thương cần hỗ trợ về tuân thủ và quản trị cơ bản.
"Thay vì tập trung ngăn doanh nghiệp rút lui, Chính phủ nên đóng vai trò kiến tạo, tạo ra nhiều cơ hội kinh doanh và đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế bền vững", theo GS. TS Võ Xuân Vinh.
Còn từ góc nhìn của chủ doanh nghiệp, ông Hồng không kỳ vọng nhiều vào các đề xuất vĩ mô, bởi tác động chính sách luôn có độ trễ. Điều ông quan tâm trước mắt là đầu tư công những tháng tới giải ngân hiệu quả đến đâu, sức mua cải thiện ra sao, để những đơn vị hưởng lợi trực tiếp như công ty ông sớm qua giai đoạn khó khăn.
"Tôi cố gắng duy trì hoạt động để những người theo mình có việc làm, có lương", ông nói.
Nhưng, đằng sau mục tiêu giữ việc làm cho nhân viên, người đàn ông này còn động lực lớn hơn để xoay xở mỗi ngày. Ông không muốn thêm lần nào phải tính đến kịch bản cũ: đóng cửa cơ ngơi đã gây dựng 17 năm qua.
TRỰC TIẾP