Doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam đạt tỷ lệ có lãi cao nhất 15 năm
Đây là nội dung chính trong kết quả khảo sát thực trạng doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư tại nước ngoài năm 2025 do Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO) thực hiện, công bố chiều 26/1.
Môi trường đầu tư và triển vọng kinh doanh của doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam tiếp tục ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực.( Ảnh minh họa: Hồng Đạt/TTXVN).
Ông Okabe Mitsutoshi, Trưởng đại diện Văn phòng JETRO tại TP HCM cho biết, theo kết quả khảo sát, tỷ lệ doanh nghiệp Nhật Bản đang hoạt động tại Việt Nam dự báo có lãi trong năm 2025 đạt 67,5%, tăng 3,4 điểm phần trăm so với năm trước và là mức cao nhất kể từ năm 2009.
Đây cũng là lần đầu tiên sau 5 năm, tỷ lệ này tại Việt Nam vượt mức trung bình của ASEAN (65,3%). Ngược lại, tỷ lệ doanh nghiệp dự báo thua lỗ giảm còn 17,6%, thấp hơn 1,7 điểm so với năm trước. Tỷ lệ doanh nghiệp có lãi đã tăng liên tiếp trong hai năm gần đây, phản ánh sự cải thiện đáng kể của hoạt động kinh doanh.
Cụ thể, trong ngành chế tạo, tỷ lệ doanh nghiệp có lãi đạt 74,1% (tăng 3,9 điểm), trong khi tỷ lệ báo lỗ giảm mạnh xuống còn 13%. Nhiều ngành ghi nhận mức cải thiện trên 15 điểm phần trăm, như giấy, sản phẩm gỗ, in ấn; linh kiện thiết bị điện, điện tử; sắt, kim loại, kim loại màu.
Ở khối phi chế tạo, tỷ lệ doanh nghiệp có lãi đạt 61,2% (tăng 3,3 điểm), song tỷ lệ doanh nghiệp báo lỗ cũng tăng nhẹ lên 22%. Một số lĩnh vực như kinh doanh, cho thuế bất động sản, giáo dục, y tế có mức cải thiện lợi nhuận trên 20 điểm. Tuy nhiên, các ngành thiết bị vận tải, khai khoáng, năng lượng, du lịch, giải trí, bán lẻ và nhà hàng vẫn có tỷ lệ doanh nghiệp có lãi dưới 50%.
Nguyên nhân cải thiện trong ngành chế tạo chủ yếu đến từ nhu cầu tại thị trường xuất khẩu tăng. Đối với ngành phi chế tạo, nhu cầu thị trường nội địa tăng là động lực chính, còn các rủi ro lớn nhất là cạnh tranh ngày càng gay gắt và chi phí nhân công tăng cao.
Về triển vọng năm 2026, có 47,6% doanh nghiệp tham gia khảo sát dự báo lợi nhuận sẽ được cải thiện. Tuy nhiên, riêng ngành thiết bị vận tải và linh kiện thiết bị vận tải, tỷ lệ doanh nghiệp dự báo kết quả kinh doanh xấu đi vượt trên 30%.
Trong giai đoạn 1- 2 năm tới, 56,9% doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam cho biết sẽ mở rộng hoạt động kinh doanh, tăng 0,8 điểm so với năm trước. Dù mức độ tham vọng mở rộng gần như ổn định, Việt Nam vẫn dẫn đầu ASEAN về chỉ tiêu này trong hai năm liên tiếp.
Tỷ lệ doanh nghiệp dự kiến thu hẹp hoạt động là 4,2% do đơn hàng xuất khẩu giảm; còn tỷ lệ dự kiến di chuyển hoặc rút lui sang thị trường thứ ba ở mức rất thấp, 0,7%.
Xét theo lĩnh vực, 51,1% doanh nghiệp ngành chế tạo và 61,7% doanh nghiệp phi chế tạo dự kiến mở rộng hoạt động. Đáng chú ý, trong ngành thiết bị vận tải và linh kiện thiết bị vận tải, có tới 16,7% doanh nghiệp dự kiến thu hẹp quy mô; các ngành máy móc nói chung và dệt may, quần áo cũng ghi nhận tỷ lệ thu hẹp trên 10%. Tại khu vực miền Bắc và miền Trung, tỷ lệ doanh nghiệp chế tạo có kế hoạch mở rộng chỉ ở mức khoảng 40%.
Lý do mở rộng được các doanh nghiệp ở cả hai khối ngành nêu ra nhiều nhất là nhu cầu thị trường nội địa gia tăng và xuất khẩu tăng. Tuy nhiên, các chức năng như bán hàng, triển khai lĩnh vực kinh doanh mới và quản lý khu vực vẫn thấp hơn mức trung bình của ASEAN.
Liên quan đến tác động của thuế đối ứng của Mỹ lên doanh nghiệp Nhật Bản, ông Okabe Mitsutoshi chia sẻ, 35% doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam có hoạt động xuất khẩu sang Mỹ, cao hơn mức trung bình của ASEAN; trong đó, xuất khẩu trực tiếp chiếm 13,8% và xuất khẩu gián tiếp thông qua nước thứ ba chiếm 21,2%.
Riêng trong ngành chế tạo, tỷ lệ doanh nghiệp có xuất khẩu sang Mỹ lên tới 58,2%, đặc biệt cao ở các ngành thiết bị điện, điện tử, linh kiện thiết bị điện, điện tử, linh kiện thiết bị vận tải, sản phẩm nhựa và thiết bị chính xác, y tế.
Khoảng 33,8% doanh nghiệp xuất khẩu sang Mỹ dự báo sẽ chịu tác động tiêu cực đáng kể từ các biện pháp thuế quan, chủ yếu do nhu cầu tại thị trường Mỹ suy giảm. Tuy vậy, nhiều doanh nghiệp vẫn nỗ lực duy trì xuất khẩu thông qua các biện pháp cắt giảm chi phí, đàm phán giá với nhà cung cấp và đồng thời đẩy mạnh đa dạng hóa thị trường ngoài Mỹ.
Các lợi thế hàng đầu của môi trường đầu tư tại Việt Nam tiếp tục được doanh nghiệp Nhật Bản đánh giá cao, gồm quy mô thị trường và tiềm năng tăng trưởng (68,4%), chi phí nhân công thấp (55,2%) và tình hình chính trị – xã hội ổn định (53,2%). Các chỉ tiêu này đều tăng so với năm trước và cao hơn mức trung bình ASEAN.
Ngược lại, rủi ro lớn nhất vẫn là thủ tục hành chính phức tạp, với 67,5% doanh nghiệp phản ánh, tăng mạnh so với giai đoạn trước và tiếp tục tăng thêm 5,1 điểm trong năm qua. Hai rủi ro khác là hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, vận hành thiếu minh bạch và chi phí nhân công gia tăng, đều có tỷ lệ đánh giá cao hơn ASEAN trên 20 điểm.
Nhiều doanh nghiệp phản ánh các vướng mắc cụ thể như thủ tục cấp phép kéo dài, thay đổi quy định mang tính hồi tố, sự thiếu thống nhất trong cách áp dụng pháp luật giữa các địa phương, cũng như khó khăn trong cấp phép lao động cho người nước ngoài. Một số ý kiến còn bày tỏ lo ngại về quy định liên quan đến xe sử dụng động cơ đốt trong, hạ tầng, rủi ro mất điện, ngập lụt và tác động của biến đổi khí hậu.
Tuyển dụng lao động cũng là thách thức của các doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam. Có tới 48,2% doanh nghiệp cho biết việc tuyển dụng đã trở nên khó khăn hơn trong hai năm gần đây, cao hơn nhiều so với mức trung bình ASEAN. Trong ngành chế tạo, tỷ lệ này lên tới 66,7%, đặc biệt cao tại khu vực miền Bắc. Nguyên nhân chủ yếu là yêu cầu về tiền lương, đãi ngộ tăng và cạnh tranh lao động ngày càng gay gắt.
Mức tăng lương bình quân năm 2025 tại Việt Nam là 5,5% và dự kiến duy trì mức tương tự trong năm 2026. Mức lương cơ bản trung bình vẫn thấp hơn một chút so với Thái Lan và Malaysia, nhưng đang tương đương với Ấn Độ và Philippines.
Đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam năm 2025 ước đạt khoảng 3 tỷ USD, tăng 19,5% so với năm 2024, tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực như trung tâm thương mại, khu công nghệ và công nghiệp ô tô.
Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp Nhật Bản, đặc biệt là các startup, đang quan tâm tới lĩnh vực chuyển đổi số và các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ cao. Đáng chú ý, một số startup Nhật Bản đang tích cực khảo sát để hợp tác phát triển công nghệ nuôi tôm theo hướng giảm phát thải tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
“Có thể thấy, Việt Nam tiếp tục là điểm đến đầu tư quan trọng của doanh nghiệp Nhật Bản tại ASEAN, với triển vọng lợi nhuận và kế hoạch mở rộng tích cực. Tuy nhiên, để duy trì sức hấp dẫn trong dài hạn, việc cải thiện thủ tục hành chính, nâng cao tính minh bạch của hệ thống pháp luật và giải quyết bài toán nhân lực vẫn là những yêu cầu cấp thiết”, ông Okabe Mitsutoshi khuyến nghị.