|
 Thuật ngữ VietnamBiz
Hàng hóa

Indonesia tăng xuất khẩu tôm vào Mỹ và EU

22:20 | 20/06/2017
Chia sẻ
Indonesia là nước XK tôm lớn thứ 6 thế giới với giá trị XK năm 2016 chiếm 7,3% tổng giá trị XK toàn thế giới. Trong 10 năm (2007-2016), khối lượng XK tôm của nước này tăng từ 140 nghìn tấn năm 2007 lên gần 188 nghìn tấn năm 2016. Từ 2007-2013, XK tôm nước này dao động lên xuống trong khi từ 2013-2016, khối lượng XK tôm Indonesia liên tục tăng.
indonesia tang xuat khau tom vao my va eu

Năm 2016, Indonesia XK gần 188 nghìn tấn tôm, trị giá 1,7 tỷ USD; tăng 3,6% về khối lượng và 6% về giá trị so với năm 2015. Mỹ là thị trường NK tôm lớn nhất của Indonesia, chiếm hơn 64% tổng giá trị XK tôm của nước này; Nhật Bản đứng thứ hai chiếm trên 20%; EU đứng thứ 3 chiếm khoảng 7,8%; Việt Nam chiếm khoảng 2,1%. Trong top các thị trường NK tôm lớn nhất của Indonesia; XK sang Mỹ, EU, Việt Nam, Malaysia tăng trưởng tốt trong khi XK sang Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan giảm.

Indonesia XK sang Việt Nam, Trung Quốc, Malaysia chủ yếu là tôm nguyên liệu. Các mặt hàng tôm giá trị gia tăng và chế biến sâu thường được xuất sang Mỹ, Nhật Bản, EU. Các sản phẩm tôm chế biến của Indonesia XK sang EU được giá hơn xuất sang Mỹ và Nhật Bản.

XK sang Mỹ và EU tăng

Trên thị trường Mỹ, Indonesia là nhà cung cấp lớn thứ hai sau Ấn Độ, chiếm gần 22% tổng giá trị NK tôm vào Mỹ. Việt Nam đứng thứ tư chiếm 8,8%. Trong 4 tháng đầu năm nay, XK tôm từ Indonesia sang Mỹ tăng 1% về khối lượng và 8% về giá trị. Giá XK trung bình của Indonesia 4 tháng đầu năm nay đạt 9,95 USD/kg, tăng so với 9,3 USD/kg của cùng kỳ năm ngoái. Giá XK trung bình của Việt Nam 4 tháng đầu năm nay cao hơn Indonesia, đạt 10,7 USD/kg.

Tôm thịt nguyên liệu đông lạnh (HS0306170040) là sản phẩm được NK nhiều nhất vào Mỹ. Ấn Độ là nhà cung cấp lớn nhất mặt hàng này cho Mỹ, tiếp đó là Indonesia và Việt Nam. Ấn Độ tăng mạnh về khối lượng và giá trị cung cấp mặt hàng này lần lượt là 40% và 44% trong khi Indonesia giảm 8% về khối lượng và giảm 2% về giá trị. Việt Nam đứng thứ 3 giảm 41% về khối lượng và 12% về giá trị.

Tôm thịt chế biến đông lạnh (HS1605211030) là sản phẩm được NK nhiều thứ hai vào Mỹ. Thái Lan là nhà cung cấp lớn nhất, Việt Nam và Indonesia lần lượt đứng thứ hai và ba. Thái Lan giảm 9% về khối lượng nhưng tăng 1% về giá trị cung cấp mặt hàng này cho Mỹ. Việt Nam đứng thứ hai giảm 7% và 5% lần lượt về khối lượng và giá trị. Indonesia đứng thứ ba tăng lần lượt 38% và 43%. Indonesia đang có xu hướng đẩy mạnh cung cấp mặt hàng này cho Mỹ so với các nhà cung cấp khác.

Trên thị trường Mỹ, Indonesia hiện đang khả năng cạnh tranh tốt bởi nhiều yếu tố thuận lợi cả trong sản xuất lẫn XK tôm.

Về sản xuất, ngành tôm Indonesia ít bị dịch bệnh hơn các nước khác. Về XK sang Mỹ, tôm nước này không phải chịu thuế chống bán phá giá như Việt Nam, Thái Lan hay Ấn Độ. Ngoài ra, ngành tôm Indonesia dường như không vấp phải nhiều rào cản từ phía Mỹ như các nước khác. Năm 2013, Indonesia vẫn còn đứng sau Ấn Độ và Thái Lan về cung cấp tôm cho thị trường này và nhanh chóng lên vị trí dẫn đầu năm 2014 và dao động ở vị trí số 1 và số 2 từ đó tới nay.

Trên thị trường EU, Indonesia chiếm 2,2% thị phần, thấp hơn nhiều so với 8,5% thị phần của tôm Việt Nam. Năm 2016, XK tôm của Indonesia sang EU đạt 150,6 triệu USD; tăng 8,8% so với năm 2015. XK tôm Việt Nam sang EU cũng tăng 8,6% so với năm 2015.

Indonesia đang chuẩn bị ký Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) với EU về các vấn đề như thuế, hải quan, rào cản thương mại để thúc đẩy thương mại và đầu tư giữa hai bên. FTA giữa 2 bên dự kiến sẽ được thực hiện trong vòng 2 năm tới. Do vậy, XK tôm Indonesia sang EU dự kiến có tiềm năng tăng trưởng.

Sản lượng dự kiến tăng

Sản lượng tôm nuôi ở Indonesia có dấu hiệu được cải thiện trong năm nay. Theo khảo sát ngành tôm hàng năm của Liên minh Nuôi trồng Thủy sản toàn cầu (GAA), tốc độ tăng trưởng sản lượng tôm Indonesia sẽ dẫn đầu châu Á và dự kiến đạt 800.000 tấn vào năm 2017.

Dự báo Indonesia sẽ tiếp tục tăng khối lượng tôm XK sang các thị trường chính như Mỹ và EU trong khi tiếp tục giảm XK sang Nhật Bản.

Kim Thu

Lợi nhuận ngành thép sút kém, ngoài giá bán giảm còn nhiều lý do khác
Giá bán thép thành phẩm đi xuống chỉ là một trong những nhân tố khiến lợi nhuận các doanh nghiệp như Hòa Phát, Hoa Sen, Nam Kim, … đi xuống. Ngoài ra còn những nguyên nhân khác như tỷ giá biến động bất lợi hay chi phí vận tải lên cao.