Điều gì khiến doanh nghiệp FDI vẫn ít niêm yết tại Việt Nam?
Tại sự kiện do Chứng khoán SSI tổ chức với chủ đề “Lộ trình niêm yết cho doanh nghiệp FDI tại Việt Nam” sáng nay (28/7), đại diện cơ quan quản lý, sở giao dịch chứng khoán, đơn vị tư vấn và các chuyên gia đã trao đổi về lợi ích, quy định pháp lý và những công việc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cần chuẩn bị khi thực hiện IPO, niêm yết tại Việt Nam.
Ông Trần Thanh Duy, Giám đốc Dự án Dịch vụ Ngân hàng Đầu tư Chứng khoán SSI, cho biết lợi ích đầu tiên của IPO và niêm yết là giúp doanh nghiệp tiếp cận thêm nguồn vốn.
Nguồn vốn huy động được có thể được sử dụng để mở rộng sản xuất, kinh doanh, đầu tư dự án mới hoặc tái cơ cấu bảng cân đối kế toán, trong đó có việc giảm áp lực nợ vay.
Khi trở thành công ty đại chúng và niêm yết, doanh nghiệp cũng có thể nâng cao vị thế, mức độ nhận diện và uy tín trên thị trường. Bên cạnh phát hành cổ phiếu, doanh nghiệp có thể tiếp cận thêm các công cụ huy động vốn, thực hiện giao dịch trên thị trường vốn, mua bán – sáp nhập, tái cấu trúc sở hữu hoặc xây dựng chính sách đãi ngộ dài hạn cho người lao động.
Rào cản IPO không nằm ở vốn ngoại
Bà Trần Kim Dung, Phó Trưởng ban Quản lý chào bán, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, cho biết cơ quan quản lý đã nhận được nhiều đóng góp và hỗ trợ từ phía Nhật Bản trong quá trình phát triển thị trường chứng khoán.
Thông qua các dự án hợp tác kỹ thuật, các chuyên gia Nhật Bản đã tư vấn về việc kết hợp quy trình IPO và đăng ký niêm yết nhằm rút ngắn thời gian thực hiện. Theo bà Dung, Nghị định số 245 đã gắn kết một số thủ tục và quy định mốc 30 ngày đối với một số bước xem xét hồ sơ.
Về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, bà Dung cho biết quy định hiện không tổ chức nhóm doanh nghiệp này thành một loại hình riêng như trước. Khi tham gia thị trường chứng khoán Việt Nam, doanh nghiệp đều phải tuân thủ Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán và các quy định pháp luật liên quan.
Tỷ lệ sở hữu nước ngoài tối đa được xác định căn cứ vào ngành, nghề kinh doanh của doanh nghiệp. Đối với những ngành, nghề không bị hạn chế và không có quy định khác về tỷ lệ sở hữu, mức sở hữu nước ngoài có thể lên tới 100%.
Theo bà Dung, hiện có thể nhận diện ba nhóm doanh nghiệp chính. Nhóm thứ nhất là doanh nghiệp được thành lập ban đầu dưới hình thức doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, sau đó chuyển đổi thành công ty cổ phần.
Nhóm thứ hai là doanh nghiệp được thành lập theo Luật Doanh nghiệp, trong đó nhà đầu tư nước ngoài sở hữu trên 50% vốn điều lệ. Nhóm thứ ba là doanh nghiệp có tỷ lệ sở hữu nước ngoài dưới 50% khi thành lập, nhưng tỷ lệ này tăng lên trên 50% sau quá trình chuyển nhượng, mua bán, sáp nhập hoặc tái cấu trúc.
Pháp luật chứng khoán hiện hành không phân biệt doanh nghiệp dựa trên nguồn gốc hình thành. Các thủ tục đăng ký công ty đại chúng, IPO, niêm yết hoặc đăng ký giao dịch được xem xét trên nguyên tắc công bằng giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp trong nước.
Tuy nhiên, trước khi nộp hồ sơ, doanh nghiệp cần rà soát các nghĩa vụ và cam kết phát sinh từ giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, giấy phép đầu tư hoặc các thỏa thuận với Chính phủ và chính quyền địa phương.
Nếu còn cam kết chưa được thực hiện, doanh nghiệp cần hoàn thành nghĩa vụ hoặc tiến hành thủ tục điều chỉnh trước khi nộp hồ sơ đăng ký công ty đại chúng, IPO hoặc niêm yết.
Khi tiếp nhận hồ sơ, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước sẽ phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ Tài chính và những cơ quan liên quan để rà soát tình trạng đầu tư, điều kiện kinh doanh và các vấn đề pháp lý của doanh nghiệp.
Thông tin cũng có thể được gửi tới Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Ngân hàng Nhà nước và cơ quan tài chính tại địa phương để rà soát. Nếu doanh nghiệp còn vi phạm hoặc chưa hoàn thành nghĩa vụ với Chính phủ hay địa phương, quá trình xử lý hồ sơ có thể phải tạm dừng. Ngoài những vấn đề này, hồ sơ được xem xét bình thường, công bằng và minh bạch như đối với doanh nghiệp Việt Nam.
Bà Trần Kim Dung, Phó Trưởng ban Quản lý chào bán, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, phát biểu tại đại hội. Ảnh: SSI
Bà Tina LeDinh, Luật sư điều hành tại Việt Nam, cho biết cơ quan quản lý sẽ xem xét doanh nghiệp đã hoàn thành các cam kết được ghi trong hồ sơ đầu tư, giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc giấy phép đầu tư hay chưa.
Đối với một số doanh nghiệp FDI Nhật Bản, các cam kết có thể liên quan đến chuyển giao công nghệ, đào tạo và sử dụng lao động. Doanh nghiệp cần bảo đảm các cam kết đã được hoàn thành, điều chỉnh hoặc được cơ quan có thẩm quyền xác nhận không còn áp dụng.
Nhiều doanh nghiệp FDI cũng từng được hưởng ưu đãi về thuế, tiền thuê đất hoặc các chính sách đầu tư khác. Doanh nghiệp cần công bố rõ các ưu đãi, điều kiện và thời hạn áp dụng, đồng thời xác định liệu những ưu đãi này có tiếp tục được duy trì khi trở thành công ty đại chúng hay không.
Theo bà Tina LeDinh, do số lượng trường hợp thực tế còn hạn chế, các nội dung này cần được xem xét trên cơ sở từng doanh nghiệp và từng hồ sơ cụ thể.
Bà Tina LeDinh, Luật sư điều hành tại Việt Nam, phát biểu tại sự kiện. Ảnh: SSI
Chỉ 10 doanh nghiệp FDI hiện diện trên sàn chứng khoán
Bà Trần Kim Dung cho biết cơ quan quản lý chưa hoàn tất trường hợp cụ thể nào theo toàn bộ quy trình mới. Do nghĩa vụ và cam kết đầu tư khác nhau theo từng doanh nghiệp, hiện chưa có một danh mục hồ sơ thống nhất áp dụng cho tất cả trường hợp.
Các cam kết có thể được thể hiện trong giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, giấy phép đầu tư, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc các thỏa thuận với địa phương. Doanh nghiệp cần chủ động rà soát, hoàn thành các nghĩa vụ còn tồn tại và làm việc với cơ quan chuyên môn có liên quan.
Cơ quan quản lý sẽ xác minh thông tin và lấy ý kiến các đơn vị có thẩm quyền. Khi doanh nghiệp được xác nhận không còn vướng mắc, hồ sơ mới tiếp tục được xem xét theo quy định.
Theo bà Tina LeDinh, doanh nghiệp cũng cần rà soát toàn bộ ngành, nghề kinh doanh, xác định giới hạn sở hữu nước ngoài và tính toán cơ cấu cổ đông dự kiến sau IPO.
Trong một số trường hợp, doanh nghiệp có thể phải phát hành thêm cổ phần cho nhà đầu tư trong nước hoặc cổ đông nước ngoài phải chuyển nhượng bớt cổ phần để bảo đảm tỷ lệ sở hữu phù hợp. Những nội dung này cần được chuẩn bị từ sớm khi xây dựng phương án IPO.
Ông Trịnh Sơn Hồng, Quyền Chủ tịch Sở Giao dịch Chứng khoán TP HCM (HOSE), cho biết thị trường chứng khoán Việt Nam hiện có khoảng 1.600 doanh nghiệp niêm yết hoặc đăng ký giao dịch, nhưng chỉ khoảng 10 doanh nghiệp có nguồn gốc FDI, chiếm khoảng 0,2% tổng vốn hóa thị trường.
Theo ông Hồng, việc có thêm doanh nghiệp FDI niêm yết có thể giúp đa dạng ngành, nghề và sản phẩm đầu tư, nhất là trong lĩnh vực sản xuất, công nghiệp. Nhiều doanh nghiệp FDI có quy mô vốn và hiệu quả kinh doanh tốt, đồng thời áp dụng các chuẩn mực quản trị tương đối cao, qua đó có thể góp phần thu hút thêm vốn đầu tư quốc tế.
Tuy nhiên, quyết định niêm yết còn phụ thuộc vào nhu cầu huy động vốn và mức độ sẵn sàng của từng doanh nghiệp trong việc đáp ứng các yêu cầu về quản trị, công bố thông tin và tuân thủ pháp luật.
Ông Hồng cũng nhấn mạnh vai trò của công ty chứng khoán trong việc tư vấn và hỗ trợ doanh nghiệp hoàn thiện hồ sơ. Khi trở thành công ty đại chúng, doanh nghiệp FDI phải nâng cấp đội ngũ pháp lý, bộ phận tài chính – kế toán, hệ thống báo cáo, công bố thông tin và cơ cấu quản trị.
Vì vậy, doanh nghiệp cần chuẩn bị sớm và nâng cấp đồng bộ quy trình, hệ thống và nhân sự trước khi thực hiện IPO, niêm yết.
Ông Trịnh Sơn Hồng, Quyền Chủ tịch Sở Giao dịch Chứng khoán TP HCM (HOSE) phát biểu tại đại hội. Ảnh: SSI
TRỰC TIẾP