Thấy gì từ 6 địa phương tăng trưởng GRDP hai con số năm 2025?
Theo báo cáo kết quả tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) của 34 tỉnh, thành phố, tốc độ tăng GRDP của các địa phương dao động trong khoảng từ 5,84% đến 11,89%. Phần lớn các địa phương có tốc độ tăng trưởng trên 7% (chỉ có 5 tỉnh có tốc độ tăng trưởng dưới 7%).
Nhóm địa phương đạt tăng trưởng trên 10% (với 6/34 tỉnh, thành phố), tiêu biểu là Quảng Ninh và Hải Phòng tăng cao nhất với mức tăng lần lượt là 11,89% và 11,81%.
Các vị trí tiếp sau lần lượt thuộc về Ninh Bình, Phú Thọ, Bắc Ninh và Quảng Ngãi, tăng trưởng từ 10,02% đến 11,89%, cao hơn đáng kể so với mức bình quân chung.
(Nguồn: Nguyễn Ngọc tổng hợp từ Cục Thống kê).
Các địa phương này có điểm chung là định hướng phát triển kinh tế phù hợp với điều kiện và lợi thế so sánh của địa phương; nền tảng công nghiệp và dịch vụ tương đối vững chắc. Đồng thời, các địa phương này cũng triển khai hiệu quả các giải pháp cải cách thể chế, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và nâng cao hiệu lực,...
Tăng trưởng đột phá tại các địa phương này gắn liền với vận hành các tổ hợp công nghiệp và dự án FDI quy mô lớn, tiêu biểu như: Khu kinh tế ven biển Quảng Yên và tổ hợp công nghiệp ô tô Thành Công Việt Hưng, Các dự án FDI trong khu công nghiệp Đông Mai, Hải Hà tại Quảng Ninh;
Khu kinh tế Đình Vũ - Cát Hải, tổ hợp sản xuất ô tô VinFast, các dự án FDI của tập đoàn LG tại Hải Phòng; Các cụm công nghiệp ô tô và công nghiệp hỗ trợ, các khu, cụm công nghiệp Khánh Phú, Gián Khẩu tại Ninh Bình; Khu công nghiệp Thụy Vân, Phù Ninh, Trung Hà tại Phú Thọ; Tổ hợp Samsung, Các khu công nghiệp Yên Phong, Quế Võ, Tiên Sơn tại Bắc Ninh….
Bên cạnh đó, một số địa phương tận dụng lợi thế quy mô kinh tế còn nhỏ để tạo bước nhảy vọt về tỷ trọng, thông qua đột phá trong giải ngân vốn đầu tư công và phát triển các lĩnh vực mới.
Đáng chú ý, Hải Phòng đạt mức tăng trưởng kinh tế 11,81%, đóng góp 8,58% vào tăng trưởng chung của cả nước, tiếp tục khẳng định vị trí dẫn đầu với tốc độ tăng trưởng cao và ổn định qua nhiều năm.
Động lực chính dẫn dắt tăng trưởng kinh tế là khu vực công nghiệp và xây dựng, đặc biệt ngành công nghiệp chế biến chế tạo phục hồi mạnh mẽ, tăng 15,93% và đóng góp tới 66,9% vào tăng trưởng. Bên cạnh đó, ngành vận tải và kho bãi tăng 13,11%, đóng góp 15,46%, củng cố vai trò của Hải Phòng như một trung tâm logistics và cảng biển lớn hàng đầu cả nước.
Sau khi sáp nhập với Bắc Giang, Bắc Ninh trở thành trung tâm công nghiệp chế biến, chế tạo quy mô lớn, có sức cạnh tranh cao trong vùng Đồng bằng sông Hồng và Trung du miền núi phía Bắc.
Sự kết hợp này tạo nên lợi thế bổ trợ rõ nét khi Bắc Ninh vốn là thủ phủ công nghiệp điện tử với sự hiện diện của các tập đoàn lớn như Samsung, Canon, Amkor; trong khi Bắc Giang nổi lên với thế mạnh của công nghiệp hỗ trợ, tốc độ tăng trưởng cao và khả năng thu hút FDI mạnh mẽ vào sản xuất, chế tạo.
Nhờ đó, địa phương hình thành một trung tâm sản xuất đa dạng, quy mô lớn, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế. Đồng thời, sự hợp nhất mở rộng không gian phát triển, tối ưu hóa nguồn lực và tạo cực tăng trưởng mới, thúc đẩy liên kết vùng theo hướng bền vững.
Tăng trưởng GRDP của Bắc Ninh năm 2025 ước đạt 10,3%, đứng thứ 5/34 địa phương, chủ yếu do ngành kinh tế chủ lực là “Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học” tăng mạnh trên 20%. Kết quả này đến từ các doanh nghiệp hiện hữu mở rộng quy mô (Công ty Hana Micon, Fuyu, Fukang, Samsung electric) và các dự án FDI mới đi vào hoạt động từ cuối năm 2024 như công ty Fulian, Amkor,….
Ở chiều ngược lại, một số địa phương có tốc độ tăng trưởng GRDP thấp hơn mức bình quân chung, gồm Vĩnh Long, Thái Nguyên, Tuyên Quang với mức tăng dao động từ 5,84% đến 6,4%.
Nguồn: Cục Thống kê
Với kết quả này, bà Mai Thị Hạnh, Trưởng ban Hệ thống Tài khoản Quốc gia, Cục Thống kê cho rằng việc duy trì đà tăng trưởng GRDP của các địa phương trong thời gian tới tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức, xuất phát từ cả yếu tố bên ngoài lẫn nội tại của từng địa phương.
Trên bình diện quốc tế, biến động giá nguyên vật liệu đầu vào, chi phí logistics gia tăng và nguy cơ gián đoạn cục bộ chuỗi cung ứng vẫn hiện hữu, tác động trực tiếp đến các địa phương có cơ cấu kinh tế phụ thuộc nhiều vào sản xuất công nghiệp và xuất khẩu, đặc biệt là nhóm tỉnh có tỷ trọng FDI lớn. Bên cạnh đó, nhu cầu tiêu dùng và đầu tư toàn cầu phục hồi chưa đồng đều, tiếp tục hạn chế dư địa tăng trưởng trong ngắn hạn.
Ở trong nước, tiến độ giải ngân vốn đầu tư công tại một số địa phương còn chậm, làm giảm hiệu ứng lan tỏa của đầu tư đối với tăng trưởng kinh tế. Thị trường bất động sản phục hồi chậm, thanh khoản thấp, tác động tiêu cực đến các ngành liên quan như xây dựng, vật liệu và dịch vụ tài chính.
Ngoài ra, thiên tai, mưa lũ, dịch bệnh cục bộ tại một số địa phương gây gián đoạn sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt dân cư, làm gia tăng chi phí khắc phục và ảnh hưởng đến kết quả tăng trưởng chung.
Trong ngắn hạn, tăng trưởng kinh tế các địa phương được dự báo tiếp tục chịu tác động đan xen của các yếu tố thuận lợi và bất lợi. Việc giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời thúc đẩy các động lực tăng trưởng mới là yêu cầu cấp thiết.
Đối với các địa phương có mức tăng trưởng trung bình hoặc thấp hơn mục tiêu năm 2025, cần tập trung nhanh giải ngân đầu tư công, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, kích thích tiêu dùng nội địa và khai thác hiệu quả hơn các dư địa tăng trưởng sẵn có.
Trong đó, xây dựng kịch bản tăng trưởng GRDP gắn với tiềm năng, lợi thế của địa phương. Các tỉnh, thành phố cần rà soát, đánh giá đầy đủ tiềm năng, lợi thế so sánh và dư địa tăng trưởng của từng ngành, lĩnh vực; trên cơ sở đó xây dựng kịch bản tăng trưởng GRDP theo năm và theo từng quý, phù hợp với quy hoạch tỉnh và định hướng phát triển vùng.
Kịch bản tăng trưởng cần xác định rõ các ngành, sản phẩm chủ lực, dự án trọng điểm có khả năng tạo động lực tăng trưởng, đồng thời lượng hóa mục tiêu tăng trưởng cho từng khu vực kinh tế, gắn trách nhiệm cụ thể cho các sở, ngành và địa phương trong tổ chức thực hiện.
Ngoài ra, tăng cường theo dõi, đánh giá định kỳ và kịp thời đề xuất biện pháp tháo gỡ khó khăn. Thiết lập cơ chế theo dõi, đánh giá tình hình tăng trưởng GRDP định kỳ theo tháng, quý nhằm bám sát diễn biến sản xuất, kinh doanh và đầu tư trên địa bàn.
"Trên cơ sở phân tích kết quả thực hiện từng ngành, lĩnh vực, chủ động nhận diện các điểm nghẽn về thể chế, thủ tục hành chính, đất đai, vốn, lao động, hạ tầng và thị trường; kịp thời đề xuất các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, nhà đầu tư, nhất là các dự án lớn, dự án có tác động lan tỏa đến tăng trưởng chung của địa phương", bà Hạnh nêu rõ.