|
 Thuật ngữ VietnamBiz
Hàng hóa

Giá sầu riêng hôm nay 21/9: Vẫn neo ở mức cao, nguồn cung giảm dần

09:00 | 21/09/2026
Chia sẻ
Giá sầu riêng hôm nay (21/9) tiếp tục đi ngang tại các vùng thu mua trọng điểm. Nguồn cung sầu riêng tại Đắk Lắk đang giảm dần khi vụ thu hoạch qua giai đoạn cao điểm, trong khi nhu cầu từ Trung Quốc tăng, tạo động lực kéo giá thu mua tại vườn đi lên.

Theo ghi nhận từ giasaurieng.net ngày 21/9, giá sầu riêng tại các khu vực thu mua chính chưa xuất hiện thay đổi mới so với lần cập nhật trước. Sầu riêng Thái đẹp lựa tại Tây Nam Bộ và Đông Nam Bộ tiếp tục có mức giá cao nhất, đạt 95.000 đồng/kg.

Tại Tây Nam Bộ, RI6 đẹp lựa đang được thu mua với giá 63.000 – 65.000 đồng/kg, còn RI6 xô giữ mức 48.000 – 50.000 đồng/kg. Sầu riêng Thái đẹp lựa có giá 94.000 – 95.000 đồng/kg, trong khi hàng mua xô dao động 75.000 – 77.000 đồng/kg.

Khu vực Đông Nam Bộ cũng duy trì mặt bằng giá ổn định. RI6 đẹp lựa được giao dịch ở mức 48.000 – 65.000 đồng/kg, còn RI6 xô đạt 48.000 – 50.000 đồng/kg. Đối với sầu riêng Thái, giá hàng đẹp lựa tiếp tục ở mức 94.000 – 95.000 đồng/kg, trong khi hàng mua xô phổ biến 75.000 – 77.000 đồng/kg.

Ở Tây Nguyên, thị trường chưa ghi nhận biến động đáng kể. RI6 đẹp lựa hiện có giá 52.000 – 54.000 đồng/kg, còn RI6 xô dao động 25.000 – 30.000 đồng/kg. Sầu riêng Thái đẹp lựa được thu mua với giá 72.000 – 74.000 đồng/kg, trong khi hàng mua xô giữ mức 32.000 – 35.000 đồng/kg.

*(Đơn vị tính: đồng/kg)

     

Tên loại Sầu Riêng

Ngày 21/9/2026

Ngày 18/9/2026

Thay đổi

KHU VỰC MIỀN TÂY NAM BỘ

   

RI6 Đẹp Lựa

63.000 – 65.000

63.000 – 65.000

-

RI6 Xô

48.000 – 50.000

48.000 – 50.000

-

Sầu Riêng Thái Đẹp Lựa

94.000 – 95.000

94.000 – 95.000

-

Sầu Riêng Thái Mua Xô

75.000 – 77.000

75.000 – 77.000

-

KHU VỰC MIỀN ĐÔNG NAM BỘ

   

RI6 Đẹp Lựa

48.000 – 65.000

48.000 – 65.000

-

RI6 Xô

48.000 – 50.000

48.000 – 50.000

-

Sầu Riêng Thái Đẹp Lựa

94.000 – 95.000

94.000 – 95.000

-

Sầu Riêng Thái Mua Xô

75.000 – 77.000

75.000 – 77.000

-

KHU VỰC TÂY NGUYÊN

   

RI6 Đẹp Lựa

52.000 – 54.000

52.000 – 54.000

-

RI6 Xô

25.000 – 30.000

25.000 – 30.000

-

Sầu Riêng Thái Đẹp Lựa

72.000 – 74.000

72.000 – 74.000

-

Sầu Riêng Thái Mua Xô

32.000 – 35.000

32.000 – 35.000

-

Số liệu: giasaurieng.net

Tổng hợp: Hà My      

 Theo báo Đồng Tháp, ngày 17/9, giá sầu riêng tại một số vùng trồng Đắk Lắk đã tăng 10.000 - 15.000 đồng/kg so với ngày 10/9. Ông Nguyễn Thanh Hoàng, một nhà vườn trồng sầu riêng tại xã Krông Búk, cho biết, sầu riêng mua xô tại vườn hiện dao động từ 58.000 - 60.000 đồng/kg. Một số vườn lâu năm, trái có chất lượng đồng đều được thương lái trả khoảng 65.000 đồng/kg.

Tại các doanh nghiệp thu mua phục vụ xuất khẩu, Dona loại A hiện ở mức 83.000 - 85.000 đồng/kg, loại B 63.000 - 65.000 đồng/kg. Một số lô hàng chất lượng cao đạt 95.000 - 100.000 đồng/kg. Ri6 loại A dao động 55.000 - 60.000 đồng/kg.

Mức giá tăng diễn ra trong khoảng một tuần qua, có thời điểm mỗi ngày tăng 1.000 - 3.000 đồng/kg. Theo các doanh nghiệp xuất khẩu, nhu cầu từ Trung Quốc đang tăng khi thị trường này chuẩn bị nguồn hàng cho Tết Trung thu và kỳ nghỉ Quốc khánh đầu tháng 10.

Trong khi sức mua cải thiện, nguồn cung tại Đắk Lắk lại bước vào giai đoạn thu hẹp. Vụ thu hoạch đã qua cao điểm, hiện chỉ còn một số địa phương như Krông Búk, Ea H’leo, Krông Năng, Buôn Hồ tiếp tục thu hoạch. Sản lượng vì thế thấp hơn so với tháng 8 và đầu tháng 9.

Bà Đặng Thị Thúy Nga, Giám đốc Hợp tác xã Thương mại Dịch vụ Nông nghiệp Xuân Định cho biết, lượng sầu riêng đưa vào cấp đông trước đó khá lớn, khiến nhiều kho hiện đã đầy. Trong khi đó, nguồn hàng tươi đạt chuẩn xuất khẩu giảm dần, góp phần đẩy giá thu mua lên. Hoạt động xuất khẩu cũng thuận lợi hơn khi một số mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói từng bị cảnh báo đã khắc phục vi phạm.

Tuy nhiên, mức 80.000 - 100.000 đồng/kg trên thị trường không phải giá áp dụng cho toàn bộ sầu riêng tại vườn. Theo bà Nga, đây chủ yếu là giá hàng loại 1 tại kho. Khi mua xô, thương lái phải tính toán tỷ lệ trái loại 1, loại 2 và loại 3 trong từng vườn. Hàng loại 2, loại 3 có thể thấp hơn 20.000-35.000 đồng/kg so với hàng loại 1.

“Nếu doanh nghiệp báo giá loại 1 ở mức 70.000 đồng/kg, thương lái không thể lấy mức đó để mua toàn bộ sầu riêng trong vườn. Sau khi tính tỷ lệ hàng loại 2, loại 3 và các chi phí, giá mua xô có thể chỉ hơn 40.000 đồng hoặc khoảng 50.000 đồng/kg, tùy chất lượng từng vườn”, bà Nga nói.

Theo bà Nga, số điểm thu mua nhỏ tại vùng trồng năm nay tăng mạnh. Các điểm này chủ yếu tập kết, sơ tuyển rồi chuyển hàng về doanh nghiệp xuất khẩu, nhưng mức giá niêm yết thường là giá cao nhất để tham khảo. Sầu riêng sau khi về kho vẫn được kiểm tra, phân loại lại trước khi chốt giá. Vì vậy, giá nhà vườn thực nhận không chỉ phụ thuộc vào diễn biến chung của thị trường mà còn gắn với chất lượng trái và tỷ lệ đạt chuẩn của từng vườn.

Theo số liệu của Cục Hải quan, 7 tháng năm 2026, xuất khẩu sầu riêng đạt khoảng 1,8 tỷ USD, tăng 47% so với cùng kỳ năm 2025. Trung Quốc tiếp tục là thị trường chủ lực với khoảng 1,65 tỷ USD, tăng 57%.

Ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam, dự báo kim ngạch xuất khẩu sầu riêng tháng 9/2026 có thể lần đầu vượt 1 tỷ USD, đóng góp đáng kể vào mục tiêu xuất khẩu rau quả cả năm đạt 10 tỷ USD.


Hội thảo “Chiến lược phát triển và đầu tư bất động sản sau Nghị quyết 21 và những cập nhật chính sách”

Thời gian: 8h00 ngày 22/09/2026
Địa điểm: L7 West Lake Hanoi by Lotte Hotels, Ballroom tầng 4, 683 Lạc Long Quân, Tây Hồ, Hà Nội

Sự kiện quy tụ đại diện cơ quan quản lý, Đại biểu Quốc hội, chuyên gia bất động sản, chuyên gia kinh tế độc lập, doanh nghiệp… Các diễn giả sẽ cùng thảo luận, phân tích những nội dung quan trọng của Nghị quyết 21 và những chính sách mới; từ đó đánh giá tác động, gợi mở chiến lược phát triển và đầu tư bất động sản trong thời gian tới.

Hai phiên thảo luận chính:

Phiên 1: Nghị quyết 21 và các thay đổi pháp lý
Phiên 2: Những tác động đến tương lai phát triển và đầu tư bất động sản
Thảo luận - Hỏi đáp cùng chuyên gia

Hà My

Lãi suất cho vay bình quân tiếp tục tăng, lên mức 10,7%/năm
Lãi suất cho vay bình quân tiếp tục tăng thêm 0,1 - 0,2 điểm % lên mức 8,4- 10,7%/năm, trong khi tháng trước, lãi suất cho vay bình quân là 8,3 - 10,5 %/năm.