Doanh nghiệp

'Doanh nghiệp xi măng, sắt thép, phân bón chịu tác động lớn khi giá than thế giới leo cao'

14:58 | 12/10/2021

Chia sẻ

Mặc dù giá than trong nước không đồng pha với giá than thế giới do chính sách quản lý giá ở Việt Nam, nhưng về phía nhập khẩu, các ngành nhiệt điện, xi măng, luyện kim và phân bón sẽ là nhóm bị ảnh hưởng chính khi giá than tăng mạnh.

Theo ghi nhận của Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA), nhu cầu than toàn cầu trong 9 tháng năm 2021 chỉ tăng 4,5% so với cùng kỳ năm trước, nhưng giá than trung bình thế giới đã tăng mạnh 110% so với cùng kỳ và 75% so với đầu năm, lập kỷ lục cao nhất trong lịch sử.

Báo cáo cập nhật ngành than tháng 10 của SSI Research cho biết, thực tế cơn sốt giá than không đến từ vấn đề thiếu hụt nguồn cung than. Nguyên nhân chủ yếu của cơn sốt giá than phần lớn đến từ ba yếu tố là căng thẳng thương mại Trung Quốc - Australia và các lệnh hạn chế nhập khẩu than của Trung Quốc; nguồn cung than và các nguyên liệu đốt khác phục hồi chậm trong tình hình dịch bệnh phức tạp; và Trung Quốc tiếp tục thắt chặt kiểm soát ô nhiễm ở các ngành công nghiệp nặng. 

SSI: Doanh nghiệp xi măng, sắt thép, phân bón chịu tác động lớn trước đỉnh giá than thế giới - Ảnh 1.

Giá than thế giới tăng liên tục kể từ năm 2020 tới nay và những căng thẳng thương mại với Australia khiến giá trị nhập khẩu than của Trung Quốc theo quốc gia có sự chuyển dịch. (Nguồn: Bloomberg, S&P Global, Platts, Tổng cục Hải quan Trung Quốc).

SSI: Doanh nghiệp xi măng, sắt thép, phân bón chịu tác động lớn trước đỉnh giá than thế giới - Ảnh 2.

Trung Quốc giữ vai trò là quốc gia sản xuất than chính của thế giới với thị phần lên tới 47%. Sau những căng thẳng với Trung Quốc, thị trường xuất khẩu than của Australia chuyển hướng sang nước thứ ba. (Nguồn: IEA, Worldbank, Cục Thương mại Australia).

Trong năm 2022, IEA và Quỹ tiền tệ Quốc tế IMF dự báo, sản lượng tiêu thụ than toàn cầu sẽ tăng nhẹ 2% so với cùng kỳ năm 2021. Giá than thế giới sẽ chỉ tăng 7% so với trung bình năm 2021 và có thể giảm từ 10 – 15% so với mức đỉnh thiết lập năm khi các yếu tố gây sốt giá sớm được tháo gỡ và nguồn cung than dự kiến tăng mạnh 7%.

Đồng thời, nhờ hầu hết các nước đẩy mạnh việc cấp phép mỏ than mới trong năm, cũng như hoạt động logistic dần phục hồi, thị trường than thế giới sẽ sớm hạ nhiệt trong nửa đầu năm 2022.

'Doanh nghiệp xi măng, sắt thép, phân bón chịu tác động lớn khi giá than thế giới leo cao' - Ảnh 3.

Doanh nghiệp xi măng, sắt thép, phân bón ảnh hưởng nhiều nhất bởi giá than tăng

Về những ảnh hưởng chung tới thị trường Việt Nam, theo SSI Research, giá than trong nước không đồng pha với giá than thế giới do chính sách quản lý giá ở Việt Nam với chỉ hai đơn vị được phép khai thác và bán than trong nước là Tập đoàn Công nghiệp Than Khoáng sản Việt Nam - TKV và Tổng Công ty Đông Bắc. Mặt khác, giá than trong nước thường chỉ điều chỉnh khi có mức tăng lớn về chi phí sản xuất và diễn ra 3 - 4 năm/lần.

Các chuyên gia dự báo giá than trong nước năm 2021 chỉ tăng nhẹ 4% so với năm trước do giá than cho nhiệt điện (chiếm 72% nhu cầu trong nước) vẫn giữ nguyên để giảm áp lực cho EVN nhằm hỗ trợ giá điện trong thời điểm dịch bệnh.

Về phía nhập khẩu, giá than nhập khẩu của Việt Nam trong 9 tháng đầu năm tăng đồng pha với giá than thế giới ở mức tăng trung bình 83% so với cùng kỳ năm trước. Với giá than tăng mạnh, các ngành công nghiệp ở nước ta sẽ bị ảnh hưởng chính bao gồm nhiệt điện, xi măng, luyện kim và phân bón.

Bởi vì giá than thế giới tăng đột biến so với than trong nước, các ngành có tỷ lệ than nhập trên tổng than sử dụng trong ngành cao như xi măng (66%), sắt thép (88%), phân bón (74%) sẽ bị ảnh hưởng nhiều nhất. Còn nhiệt điện ít bị ảnh hưởng hơn do tỷ lệ than nhập mới chỉ chiếm 24% tổng than sử dụng và chính phủ cũng ưu tiên nguồn than trong nước cho nhiệt điện.

SSI: Doanh nghiệp xi măng, sắt thép, phân bón chịu tác động lớn trước đỉnh giá than thế giới - Ảnh 4.

Dự phóng giá than trong nước. (Nguồn: SSI tổng hợp).

Năm 2022, ngành than trong nước sẽ có nhiều dấu hiệu tích cực

Ngành than sẽ là ngành chịu tác động trực tiếp từ cơn sốt than. Tổng doanh thu của đơn vị sản xuất lớn nhất là TKV trong 9 tháng đạt 94.600 tỷ đồng, tăng 2% so với cùng kỳ năm 2020, nhưng sản lượng than tiêu thụ chỉ đạt 29,6 triệu tấn, giảm 1,3% do tình hình giãn cách xã hội kéo dài và huy động nhiệt điện giảm sút vì sản lượng điện tái tạo tăng mạnh.

Chi phí sản xuất than cũng tăng cao do giá than thế giới tăng cao trong khi hai đơn vị sản xuất trong nước là TKV và Đông Bắc đang phải nhập khẩu khoảng 20 - 25% lượng than từ Australia và Indonesia để trộn với than trong nước đáp ứng nhu cầu nội địa. Đồng thời, chi phí nhiên liệu cũng tăng mạnh khiến việc khai thác than trở nên đắt đỏ hơn.

Tổng doanh thu của các doanh nghiệp khai thác than niêm yết trong nửa đầu năm đạt 10.600 tỷ đồng, giảm gần 2% và lợi nhuận sau thuế đạt 115 tỷ đồng, giảm khoảng 8%. Trong nửa cuối năm 2021, các doanh nghiệp than chưa có quá nhiều triển vọng về tăng giá bán hay đẩy mạnh sản lượng tiêu thụ.

Sang năm 2022, SSI Research dự báo ngành than sẽ có nhiều dấu hiệu tích cực khi giá than trong nước dự kiến điều chỉnh từ 10 – 15% do chi phí sản xuất than của TKV và Đông Bắc đã tăng cao trong năm 2021 và nhu cầu từ nhiệt điện bắt đầu phục hồi trở lại khi giãn cách xã hội được nới lỏng. Các doanh nghiệp khai thác than đang niêm yết cũng sẽ bắt đầu được hưởng lợi khi đàm phán lại giá bán mới cho TKV trong năm 2022.

Tuy nhiên, các chuyên gia phân tích cũng lưu ý rằng giá than khai thác ở Việt Nam đang đắt hơn nhiều so với thế giới ở trong giai đoạn bình thường (năm 2019 giá than Việt Nam đắt hơn 18% so với giá than nhập khẩu) nên dư địa tăng giá trong nước không còn nhiều, nhất là khi giá than thế giới có khả năng hạ nhiệt nhanh trong năm 2022.

Tường Vy