|
 Thuật ngữ VietnamBiz
Hàng hóa

Ngô siết tồn kho, khô đậu tương dư cung: Chi phí thức ăn chăn nuôi đang phân hóa

09:10 | 18/08/2026
Chia sẻ
Khảo sát thực địa đầu tiên của Bộ Nông nghiệp Mỹ cho niên vụ 2026/27 hạ năng suất ngô Mỹ xuống 180,7 giạ/mẫu và cắt giảm 137 triệu giạ tồn kho.

Cũng trong báo cáo, công suất ép dầu đậu tương Mỹ lập kỷ lục 2,78 tỷ giạ, đưa xuất khẩu khô đậu lên mức cao nhất từ trước tới nay. Mặt bằng giá nông sản thế giới nhìn chung vẫn thấp, nhưng hai dòng chảy ngược chiều trong cùng một kỳ báo cáo khiến chi phí thức ăn chăn nuôi phân hóa - nguyên liệu giàu năng lượng gần như hết dư địa giảm, trong khi đạm tiếp tục hạ nhiệt.

Khảo sát thực địa “thổi bay” 137 triệu giạ tồn kho ngô

Báo cáo Cung – Cầu Nông nghiệp Thế giới (WASDE) tháng 8 là kỳ đầu tiên trong niên vụ mà USDA thay mô hình dự báo bằng số liệu khảo sát thực địa trên đồng ruộng. Kết quả thấp hơn kỳ vọng của thị trường, năng suất ngô Mỹ niên vụ 2026/27  ghi nhận 180,7 giạ/mẫu Anh, giảm 2,3 giạ so với mức 183 mà chính USDA đưa ra hồi tháng 7.

Hệ quả dồn hết xuống bảng cân đối. Tồn kho ngô cuối niên vụ bị cắt 137 triệu giạ, lùi về 1,65 tỷ giạ. Con số này không chỉ thấp hơn dự báo tháng trước, mà còn trượt dưới mức 1,73 tỷ giạ mà giới phân tích dự phóng.

Nguồn: L.H tổng hợp báo cáo USDA WASDE và Agrolatam.
Quy đổi: 1 tấn tương đương khoảng 39,37 giạ ngô (25,4 kg/giạ) hoặc 36,74 giạ đậu tương (27,2 kg/giạ); 1 mẫu Anh ≈ 0,405 ha

Đáng chú ý, dữ liệu thay đổi không đến từ việc mất mùa. Diện tích gieo trồng được nâng thêm 1,4 triệu mẫu lên 96,7 triệu, giúp sản lượng vẫn nhích lên 16,013 tỷ giạ — vẫn thuộc nhóm vụ ngô lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ. Do vậy, áp lực nằm ở phía nhu cầu khi xuất khẩu tăng 75 triệu giạ lên 3,275 tỷ giạ, kéo tổng sử dụng lên 16,330 tỷ giạ và làm thu hẹp tồn kho. Giá ngô nông trại bình quân theo đó nâng từ mức 4,40 lên 4,50 USD/giạ.

Trong khi đó, tồn kho ngô thế giới lại gần như đứng yên ở mức 274,66 triệu tấn, chỉ giảm 0,59 triệu tấn so với tháng 7 — chưa đủ để gọi là một đợt siết chặt. Tuy nhiên, theo dữ liệu của Data Transmission Network - DTN, tỷ lệ tồn kho trên tiêu thụ của thế giới, nếu loại trừ Mỹ và Trung Quốc, đang ở mức thấp thứ hai kể từ năm 2001. Nói cách khác, phần nguồn cung thực sự sẵn sàng chảy ra thị trường quốc tế mỏng hơn nhiều so với con số tổng.

Với các nhà máy thức ăn chăn nuôi, điều này không có nghĩa là ngô trở nên đắt đỏ, mức giá 4,50 USD/giạ vẫn thấp so với mặt bằng nhiều năm gần đây. Nhưng dư địa để giá ngô giảm tiếp trong nửa cuối năm đã hẹp lại đáng kể.

Ép dầu kỷ lục, bơm thêm nguồn cung khô đậu

Sau khi WASDE tháng 8 phát hành, giá đậu tương hạt trên sàn Chicago tăng, tới mức báo chí nông nghiệp Mỹ có thể gọi đây là một báo cáo “thân thiện với thị trường”. Nhưng khô đậu tương - thứ nguyên liệu mà ngành chăn nuôi thực sự bỏ tiền mua - vẫn được dự báo ở mặt bằng giá thấp. Lý do nằm ở biên lợi nhuận ép dầu, nhu cầu tốt với cả dầu đậu tương lẫn khô đậu đã giúp các nhà máy giữ công suất ép ở mức cao, trong đó nhu cầu dầu cho diesel sinh học là động lực nổi bật. Sản lượng ép tăng thì lượng khô đậu đưa ra thị trường cũng tăng theo.

Theo báo cáo, USDA nâng dự báo lượng ép dầu thêm 30 triệu giạ, lên mức kỷ lục 2,780 tỷ giạ. Diện tích thu hoạch đậu tương tăng 1,4 triệu mẫu lên 85,8 triệu, giữ sản lượng ở 4,519 tỷ giạ dù năng suất giảm nhẹ về 52,7 giạ/mẫu.

Cơ cấu tiêu thụ cho thấy rõ hướng đi của vụ mùa, xuất khẩu đậu tương hạt được giữ nguyên ở 1,660 tỷ giạ, không thay đổi so với tháng 7. Như vậy, phần sản lượng tăng thêm đi vào máy ép thay vì xuất khẩu dưới dạng hạt, rồi ra thị trường thế giới dưới dạng khô đậu thành phẩm.

Nguồn: L.H tổng hợp báo cáo USDA WASDE. (*) Số liệu niên vụ 2026/27 là dự báo tại tháng 8/2026.

Dòng chảy đó đổ xuống thị trường đạm. Xuất khẩu khô đậu tương của Mỹ được nâng lên kỷ lục 22,7 triệu tấn ngắn (short ton), tương đương 20,59 triệu tấn, tăng 700 nghìn tấn ngắn chỉ trong một tháng. Về giá, USDA giữ dự báo giá khô đậu bình quân niên vụ 2026/27 ở 310 USD/tấn ngắn, tương đương khoảng 341,7 USD/tấn - không đổi so với tháng 7, nhưng thấp hơn 10 USD so với mức 320 USD của niên vụ 2025/26.

Dù vậy, giá đạm không lao dốc trong kỳ báo cáo này, mà đã qua vùng đỉnh của niên vụ trước và hiện đi ngang ở mặt bằng thấp hơn, trong khi lượng xuất khẩu vẫn leo lên kỷ lục. Với ngành chăn nuôi, một nền giá thấp và ổn định có giá trị không kém một đợt giảm giá mạnh, bởi nó mở ra cơ hội chốt hợp đồng kỳ hạn dài hạn an toàn hơn. Áp lực chi phí cũng phân hóa rõ rệt theo từng nhóm TĂCN, với các công thức khẩu phần thiên về đạm sẽ dễ thở hơn, trong khi các công thức phụ thuộc nhiều vào tinh bột ngô tiếp tục chịu sức ép.

Nam Mỹ chi phối nguồn cung đạm

Trong niên vụ 2026/27, Argentina dẫn đầu thế giới về xuất khẩu khô đậu tương với 29,6 triệu tấn, chiếm 33,1% toàn cầu. Brazil theo sát với 27,1 triệu tấn, tương đương 30,3%. Mỹ đứng thứ ba với 20,59 triệu tấn, chiếm 23%. Như vậy, bộ đôi Nam Mỹ kiểm soát 63,4% nguồn cung xuất khẩu, còn ba nhà cung cấp lớn nhất chiếm tới 86,4%.

Thị phần tính trên dự báo tổng xuất khẩu khô đậu tương toàn cầu 2026/27 là 89,44 triệu tấn. Nguồn: L.H tổng hợp báo cáo World Markets and Trade

 Với người mua châu Á, việc theo dõi mức chênh lệch giá giao hàng (basis) và lịch tàu tại các cảng Nam Mỹ quan trọng không kém việc theo dõi giá các hợp đồng kỳ hạn trên sàn Chicago.

Trung Quốc chưa trở lại thị trường ngô

Về thị trường ngô, Nam Mỹ lại đang hẹp lại. USDA giữ nguyên dự báo sản lượng ngô Brazil ở 139 triệu tấn nhưng cắt giảm xuất khẩu 1 triệu tấn, xuống còn 43 triệu tấn. Argentina giữ nguyên sản lượng 55 triệu tấn và xuất khẩu 40 triệu tấn. Nguồn cung ngô sẵn sàng ra thị trường quốc tế vì thế thu hẹp đúng lúc tồn kho Mỹ mỏng đi.

Biến số lớn nhất phía cầu là Trung Quốc và nước này đang đi theo hai hướng trái ngược nhau. Số liệu nhập khẩu ngô của Trung Quốc bị hạ tiếp 1 triệu tấn, xuống chỉ còn 5 triệu tấn. Để thấy độ lớn của màn thoái lui, nhìn lại niên vụ 2023/24, Trung Quốc từng nhập tới 23,3 triệu tấn ngô, trước khi Bắc Kinh siết nhập khẩu để đỡ giá nội địa và kéo con số về đáy 1,82 triệu tấn ở niên vụ 2024/25. Ngược lại, nhập khẩu đậu tương vẫn được giữ ở mức kỷ lục 115 triệu tấn.

Nguồn: L.H tổng hợp báo cáo World Markets and Trade - USDA FAS

Động thái thoái lui của Trung Quốc giúp giảm bớt áp lực cạnh tranh trên thị trường ngô quốc tế, dù lực mua đậu tương hạt của nước này vẫn rất lớn. Việt Nam là một trong những bên chịu ảnh hưởng rõ nét nhất từ cục diện này, theo dự báo của USDA FAS niên vụ 2026/27, Việt Nam nhập 15,9 triệu tấn ngô (đứng thứ ba sau Mexico và EU) và 6,85 triệu tấn khô đậu tương (đứng thứ hai sau EU). Quy mô tiêu thụ này khiến bài toán giá vốn của các nhà máy trong nước chịu tác động kép từ hai làn sóng hoàn toàn trái ngược.

Chi phí phân hóa giữa hai cấu phần nguyên liệu đạm và năng lượng

Đối với các nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi, bức tranh sau báo cáo WASDE tháng 8 đang đặt ra ba điểm đáng chú ý. Khô đậu tương đang ở vùng thấp của chu kỳ giá, nên các hợp đồng giao xa cho quý IV/2026 và quý I/2027 đáng được cân nhắc sớm.

Với ngô, thị trường kỳ vọng áp lực nguồn cung sẽ dịu bớt khi Bắc bán cầu bước vào chính vụ thu hoạch tháng 9–10, tạo ra cơ hội quan sát và giải ngân theo từng đợt mùa vụ thay vì chịu rủi ro gom hàng ở mức giá cao hiện tại. Và vì hơn 63% nguồn cung nguyên liệu đạm xuất khẩu đến từ Argentina cùng Brazil, biến động basis Nam Mỹ có sức ảnh hưởng không kém gì diễn biến trên Sàn giao dịch Chicago (CBOT).

Nhưng đòn bẩy tối ưu chi phí lớn nhất không nằm ở thời điểm mua. Thế phân hóa lần này có khả năng còn kéo dài, chừng nào nhu cầu nhiên liệu sinh học còn giữ biên lợi nhuận ép dầu ở mức cao, nguồn khô đậu còn dồi dào; còn tồn kho ngô Mỹ mỏng đi thì dư địa giảm giá của nhóm nguyên liệu giàu năng lượng cũng hẹp lại. Trong một thị trường như vậy, lợi thế không thuộc về đơn vị mua được rẻ nhất, mà thuộc về đơn vị dịch chuyển được công thức phối trộn theo tương quan giá giữa hai cấu phần.

 

Lan Hương

Kho bạc Nhà nước rót thêm 220.000 tỷ đồng vào các Big4 trong nửa đầu năm 2026
Tiền gửi KBNN tại 4 ngân hàng quốc doanh đạt hơn 715.000 tỷ đồng cuối quý II, tăng 45% so với cuối năm 2025, tạo thêm dư địa hỗ trợ thanh khoản.