|
 Thuật ngữ VietnamBiz
Doanh nghiệp

Lãnh đạo Nông nghiệp Hòa Phát: Từ quý II chi phí sẽ leo thang, giá heo có thể tăng 7–8%

19:00 | 21/04/2026
Chia sẻ
Tại buổi họp thường niên, lãnh đạo Nông nghiệp Hòa Phát đã chia sẻ về kết quả kinh doanh, kế hoạch năm 2026, chiến lược đầu tư đến 2030, cùng các vấn đề trọng tâm như biến động chi phí đầu vào, chu kỳ ngành chăn nuôi, lựa chọn con giống và định hướng phát triển chuỗi giá trị.

Chiều ngày 21/4, CTCP Nông nghiệp Hoà Phát (Mã: HPA) tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026 tại Hà Nội. Đến 14h18p,số cổ đông tham dự đại diện cho 92,08% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết, đủ điều kiện tiến hành đại hội.

Phiên họp ĐHĐCĐ thường niên 2026 của Nông nghiệp Hoà Phát. (Ảnh: Thuỳ Linh)

Tại cuộc họp, ban lãnh đạo trình kế hoạch kinh doanh cho năm 2026 với mục tiêu doanh thu đạt khoảng 7.200 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế dự kiến 1.005 tỷ đồng. So với kết quả thực hiện năm 2025, hai chỉ tiêu này lần lượt giảm 18% và 37%.

 

 

Trong giai đoạn 2026–2030, Hội đồng quản trị định hướng tập trung mở rộng quy mô chăn nuôi, nâng cao hiệu quả vận hành, đa dạng hóa sản phẩm và tối ưu hóa nguồn vốn. Các mảng hoạt động chính được triển khai theo định hướng sau:

Đối với mảng sản xuất thức ăn chăn nuôi, Công ty tiếp tục đẩy mạnh phát triển dòng sản phẩm FARM, hướng đến nhóm khách hàng là các trang trại quy mô lớn. Đồng thời, doanh nghiệp ưu tiên khai thác tối đa công suất các nhà máy hiện hữu, song song với việc chuẩn bị điều kiện để nâng công suất khi thị trường thuận lợi.

Trọng tâm là tối ưu quy trình sản xuất, kiểm soát chất lượng và tiết giảm chi phí, nhằm đảm bảo đáp ứng nhu cầu nội bộ cũng như thị trường. Mục tiêu đến năm 2030, sản lượng sản xuất đạt mức công suất thiết kế khoảng 300.000 tấn mỗi nhà máy.

Ở mảng chăn nuôi lợn, công ty định hướng mở rộng hệ thống trang trại tại cả hai miền Bắc và Nam, bao gồm trại giống và trại thương phẩm. Qua đó, quy mô đàn lợn dự kiến nâng lên khoảng 900.000 con vào năm 2030. Chiến lược tập trung vào việc chủ động nguồn giống, kiểm soát dịch bệnh và cải thiện năng suất sinh sản, nhằm gia tăng sản lượng lợn thương phẩm.

Đối với chăn nuôi bò, doanh nghiệp dự kiến tăng dần quy mô đàn tại các trang trại hiện có khi điều kiện thị trường cho phép. Mục tiêu đến năm 2030 đạt khoảng 73.000 con, với trọng tâm là linh hoạt trong hoạt động nhập bò và quản lý chi phí, đảm bảo hiệu quả vận hành.

Trong lĩnh vực chăn nuôi gà và sản xuất trứng, công ty lên kế hoạch đầu tư thay thế, nâng cấp hệ thống thiết bị tại các trang trại gà đẻ, đồng thời duy trì thị phần hiện có tại khu vực miền Bắc. Bên cạnh đó, doanh nghiệp tiếp tục đa dạng hóa danh mục sản phẩm trứng nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và khách hàng công nghiệp, hướng đến việc củng cố vị thế trong phân khúc trứng sạch.

Về phương án phân phối lợi nhuận, công ty cho biết đã tạm ứng cổ tức bằng tiền mặt gần 947 tỷ đồng, tương ứng tỷ lệ 35,464%, và đã thực hiện chi trả trong quý II và quý III/2025.

Đồng thời, Hội đồng quản trị đang xây dựng kế hoạch chi trả phần cổ tức còn lại với tỷ lệ 21%, tương đương hơn 598 tỷ đồng, dự kiến hoàn tất trong vòng 6 tháng kể từ khi được cổ đông thông qua.

Đối với năm 2026, doanh nghiệp dự kiến duy trì mức cổ tức 30%. Ngoài ra, chính sách phân phối lợi nhuận cũng được xác định rõ, trong đó trích tối đa 5% lợi nhuận sau thuế vào quỹ khen thưởng và phúc lợi, cùng với tối đa 5% phần lợi nhuận vượt kế hoạch để thưởng cho ban điều hành.

Thù lao dành cho Hội đồng quản trị và Ban Kiểm soát được đề xuất không vượt quá 1% lợi nhuận sau thuế thực hiện trong năm.

Phần thảo luận

Về lợi thế con giống (đặc biệt là heo) các doanh nghiệp khác có đầu tư tương tự không, nếu không vì sao?

Bà Nguyễn Thị Thanh Vẫn - Phó Chủ tịch HĐQT: Hiện nay, Hòa Phát ngay từ đầu đã lựa chọn con giống DanBred, là một trong những con giống cao sản nhất trên thị trường. Thời điểm đó, như chị Vân – Tổng Giám đốc – cũng đã chia sẻ, có một số công ty nhập về nhưng không thành công hoặc chỉ nhập một phần để cải thiện đàn. Khi đó, duy nhất Hòa Phát nhập 100% con giống DanBred và đến nay vẫn duy trì nguồn này.

Trên thị trường, gần đây cũng có một số công ty nhập giống này và đang trong quá trình làm chủ. Với Hòa Phát, ngay khi nhập về cũng phải trải qua quá trình học hỏi, thích ứng và làm chủ. Hiện nay, con giống của Hòa Phát có năng suất sinh sản cao.

Tuy nhiên, để duy trì được từ lúc sinh sản đến cai sữa và xuất bán là cả một quá trình, không chỉ phụ thuộc vào con giống mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác. Trong đó, yếu tố quyết định là con người. Việc chăm sóc để đạt được hiệu quả đến khi xuất bán là cả một nỗ lực, nên không phải doanh nghiệp nào cũng có thể đạt được.

Hiện nay, số lượng doanh nghiệp sử dụng 100% giống này không nhiều. Một số doanh nghiệp khác sử dụng giống từ Pháp hoặc Canada, nhưng hiệu quả sinh sản không tối ưu bằng giống DanBred.

Bà Nguyễn Thị Thanh Vẫn - Phó Chủ tịch HĐQT HPA đang phát biểu tại đại hội. (Ảnh: Thuỳ Linh).

Bà Phạm Thị Hồng Vân - Tổng Giám đốc: Việc lựa chọn con giống là hoàn toàn tự do và phụ thuộc vào chiến lược của từng doanh nghiệp. Từ năm 2015, Hòa Phát đã lựa chọn giống này. Trước đó, có đối tác từng nhập về quy mô nhỏ nhưng không thành công. Trong quá trình hoạt động, Hòa Phát cũng có thử nghiệm các giống khác nhưng đánh giá DanBred vẫn là tối ưu nhất với điều kiện hiện có. 

Hiệu quả đạt được từ giống này tại Hòa Phát cũng được các đơn vị cung cấp giống trước đây ghi nhận, do đạt mức tương đương với các tiêu chuẩn tại châu Âu. Một số doanh nghiệp sau này có nhập giống nhưng chưa triển khai được do yêu cầu cao trong chăn nuôi, trong khi Hòa Phát đã làm chủ được công nghệ chăn nuôi và thức ăn chăn nuôi. Do đó, việc lựa chọn con giống là định hướng riêng của từng doanh nghiệp.

Về chu kỳ ngành chăn nuôi, ban lãnh đạo nhận định của công ty trong thời gian tới như thế nào?

Bà Phạm Thị Hồng Vân - Tổng Giám đốc: Về chu kỳ ngành, chia sẻ rằng thực sự với những mặt hàng khác đều có tính chu kỳ. Nhưng với nông nghiệp, đặc biệt là mảng chăn nuôi ở Việt Nam, từ khi dịch bệnh tả heo châu Phi xảy ra đây vừa là thách thức nhưng cũng là điều kiện để dịch chuyển từ chăn nuôi nông hộ sang chăn nuôi trang trại quy mô lớn.

Trước đây, hơn 90% là chăn nuôi nông hộ, nhà nào cũng có một vài con heo, hoặc nhiều hơn khoảng 10–15 con. Nhưng sau khi dịch tả heo châu Phi xảy ra, chăn nuôi nông hộ giảm rất mạnh do không thể thích nghi với điều kiện dịch bệnh. Đến nay, tỷ lệ chăn nuôi trang trại chiếm khoảng 55–56%.

Nông nghiệp là ngành thiết yếu, nhu cầu hàng ngày luôn có. Tuy nhiên, ngành này có đặc điểm được mùa mất giá. Khi được mùa mất giá sẽ dẫn đến các giai đoạn mất cân đối cung cầu, lúc dư cung, lúc thiếu cung. Chính sự biến động này tạo ra chu kỳ của ngành nông nghiệp.

Ví dụ như đầu năm 2025, giá trứng xuống rất thấp, bà con thua lỗ nên giảm đàn. Nhưng với các quy mô chăn nuôi lớn, chúng tôi vẫn phải duy trì vì xác định là đầu tư dài hạn. Đến khoảng tháng 6–7, khi thị trường tăng trở lại chúng tôi đã sẵn sàng để triển khai. Những đơn vị dừng nuôi do thua lỗ không thể quay lại kịp thời điểm.

Sau đó, từ tháng 7 đến tháng 12 và kéo dài đến tháng 1 năm sau, giá trứng tăng cao, tạo động lực để các trang trại khác quay lại chăn nuôi. Hiện tại, chăn nuôi gà màu, gà trắng và trứng đang ở trạng thái dư cung.

Tương tự với heo, chu trình dài hơn do thời gian nuôi dài hơn. Khi giá cao bắt đầu tái đàn, nhưng do đặc thù dịch bệnh, nhiều thời điểm không thể duy trì liên tục. Vì vậy, tính chu kỳ trong ngành chăn nuôi là rõ ràng, theo quan sát khoảng 3 năm một chu kỳ.

Do đó, có thể thấy các đỉnh chu kỳ thường rơi vào giai đoạn 2020 và 2025, sau đó sẽ bước vào giai đoạn điều chỉnh và tiếp tục đi lên, với đỉnh tiếp theo có thể là khoảng năm 2030.

Đây cũng là vấn đề mà chúng tôi nhận được nhiều thắc mắc từ đối tác và cổ đông, rằng Hòa Phát làm nông nghiệp có lãi, nhiều mảng đều có lãi, vậy tại sao không đầu tư nhanh hơn để lãi lại tạo ra lãi.

Tuy nhiên, với rủi ro của ngành như đã chia sẻ, nếu tăng quy mô quá nhanh chưa chắc đã giữ được hiệu quả lợi nhuận. Chúng tôi xác định tăng trưởng có kiểm soát, trong phạm vi năng lực, và giữ vững hiệu quả là mục tiêu tiên quyết.

Về kế hoạch đầu tư đến 2030, vì sao mức đầu tư của công ty thấp hơn một số doanh nghiệp như BaF Việt Nam hay Dabaco và định hướng sắp tới ra sao?

Bà Phạm Thị Hồng Vân - Tổng Giám đốc: Điều này có thể nhìn thấy qua số liệu thị trường như quy mô đàn, sản lượng đầu ra và lợi nhuận của các doanh nghiệp trong ngành cho thấy rõ doanh nghiệp nào đang vận hành hiệu quả hơn. Việc tăng đàn nhanh, đặc biệt bằng hình thức thuê trại, gia công, sẽ tiềm ẩn rủi ro dịch bệnh rất lớn. Thực tế trên thị trường cũng có những doanh nghiệp làm gia công với quy mô đàn lớn nhưng hiệu quả không cao do rủi ro dịch bệnh.

Vì vậy, chúng tôi không phát triển quy mô ồ ạt mà làm thận trọng, trong khả năng của mình. Sau IPO, đến năm 2029 chúng tôi mới bắt đầu mở rộng mạnh các trang trại mới. Tuy nhiên, trong giai đoạn này không phải là không làm gì, mà chúng tôi đã và đang chuẩn bị quỹ đất ở cả phía Bắc và phía Nam, triển khai theo lộ trình đã cam kết.

Việc xây dựng trang trại mới theo văn hóa của Hòa Phát là tự đầu tư, không đi thuê ngoài. Do đó, các thủ tục pháp lý để triển khai trang trại mới theo đúng yêu cầu quỹ đất sẽ cần thời gian, không thể nhanh. Chúng tôi cam kết sẽ thực hiện đúng lộ trình đã đưa ra trong kế hoạch.

Bà Phạm Thị Hồng Vân - Tổng Giám đốc phát biểu tại đại hội. (Ảnh: Thuỳ Linh)

Ban lãnh đạo có thể chia sẻ thêm về kết quả kinh doanh quý I/2026 và cụ thể từng mảng được không?

Ông Nguyễn Việt Thắng - Chủ tịch HĐQT: Về phần sản xuất, nhìn chung năm nay tương đối tốt. Doanh thu quý I đạt 1.813 tỷ đồng, tương đương 25% kế hoạch Đại hội đặt ra, và lợi nhuận đạt 345 tỷ đồng, tương đương 34,3% kế hoạch lợi nhuận. Kết quả quý I như vậy là rất tốt.

Chúng tôi đánh giá rằng việc giá năng lượng tăng trong thời gian vừa qua quý I chưa phản ánh đầy đủ vào nền kinh tế. Mọi người đều biết là xăng dầu và các yếu tố năng lượng đều có tồn kho, nên dù giá tăng nhưng tác động vẫn mang tính độ trễ. Do đó, dù giá xăng dầu tăng lên, theo chúng tôi, đây vẫn mới chỉ là ở một giai đoạn.

Sang quý II và quý III, tất cả các yếu tố tăng giá sẽ phản ánh rõ hơn vào toàn bộ nền kinh tế và có thể làm tỷ lệ lạm phát tăng lên. Với diễn biến đó, chúng tôi đánh giá quý II và quý III chi phí sản xuất có thể tăng. Đối với ngành heo, nếu giá thức ăn chăn nuôi tăng giá thành có thể tăng khoảng 7–8%.

Tuy nhiên, giá bán cũng có thể tăng theo, nhưng vẫn phụ thuộc vào cung cầu thị trường. Ngành heo có đặc thù là quý III thường là thời điểm giá trung bình, còn quý IV và quý I thường là giai đoạn giá tốt. Vì vậy, chúng tôi xây dựng kế hoạch theo các yếu tố này.

Ông Nguyễn Việt Thắng - Chủ tịch HĐQT HPA phát biểu tại đại hội. (Ảnh: Thuỳ Linh)

Bà Phạm Thị Hồng Vân - Tổng Giám đốc: Trước hết, nói tổng thể năm 2025 biên lợi nhuận gộp của HPA là 26,3%. Cụ thể từng mảng: mảng chăn nuôi là 35,4%, mảng bò là 7,1%, mảng gà là 16,6%, và mảng thức ăn chăn nuôi là 17%.

Đối với năm 2026, khi xây dựng kế hoạch, chúng tôi có các kỳ rà soát và trong tháng 3 cũng đã rà soát lại trước khi chốt số liệu trình Đại hội đồng cổ đông. Chúng tôi đã tính đến các yếu tố tác động, bao gồm cả yếu tố từ thị trường Trung Đông như đã đề cập.

Theo đó, dự kiến biên lợi nhuận gộp năm 2026 của toàn HPA khoảng 20–21%. Trong đó, mảng chăn nuôi khoảng 29%, mảng bò khoảng 6,6%, mảng gà khoảng 4,1%, và mảng thức ăn chăn nuôi khoảng 14,9%.

Bên cạnh đó, quý I/2026 không được tốt bằng quý I/2025 chủ yếu đến từ hai yếu tố là giá heo và sản lượng. 

Cụ thể, giá heo bình quân quý I/2025 ở mức khoảng 67.000–70.000 đồng, trong khi quý I/2026 chỉ khoảng 66.000. Đồng thời, sản lượng quý I/2026 thấp hơn do trong năm 2025 công ty thực hiện cải tạo trại tại Mỹ Đức, nên đến đầu năm 2026 mới bắt đầu vào đàn trở lại, chưa kịp đóng góp sản lượng.

Bên cạnh đó, một số mảng khác như chăn nuôi bò vẫn duy trì kết quả tương đối tốt. Với các yếu tố trên, kết quả quý I/2026 so với cùng kỳ ghi nhận doanh thu giảm 10,8% và lợi nhuận gộp giảm 1,2% so với quý I/2025.

Bà Phạm Thị Hồng Vân - Tổng Giám đốc phát biểu tại đại hội. (Video: Thuỳ Linh).

Trong bối cảnh giá nguyên liệu biến động, công ty có định hướng nghiên cứu và sử dụng các nguyên liệu sẵn có trong nước (như sắn) hoặc các thành phần thay thế khác không? Đồng thời, công ty có kế hoạch tận dụng và bán các phụ phẩm chăn nuôi để gia tăng hiệu quả không?

Bà Phạm Thị Hồng Vân - Tổng Giám đốc: Về câu hỏi nguyên liệu sử dụng trong nước, đây là một vấn đề lớn và cũng có nhiều ý kiến đặt ra rằng Việt Nam là nước sản xuất thức ăn chăn nuôi thuộc top đầu thế giới, quy mô chăn nuôi cũng lớn, nhưng tại sao vẫn phải nhập khẩu nguyên liệu như ngô, đậu tương.

Vấn đề này đã được trao đổi nhiều tại các hội thảo về việc chủ động nguồn nguyên liệu trong nước. Tuy nhiên, theo tôi, đây là câu chuyện về lợi thế cạnh tranh và chi phí cơ hội của mỗi quốc gia. Việt Nam có lợi thế về trồng lúa và một số cây công nghiệp khác để xuất khẩu, nhưng không có lợi thế về trồng ngô hay đậu tương. Vì vậy, trong nhiều trường hợp, nhập khẩu lại có hiệu quả kinh tế hơn.

Thực tế, cách đây vài năm đã có các chương trình phát triển vùng trồng ngô quy mô lớn, kể cả sử dụng giống biến đổi gen hoặc giống kháng bệnh, nhưng chưa đạt hiệu quả như kỳ vọng. Hiện nay, sản lượng ngô trong nước chỉ khoảng 1,3 triệu tấn, trong khi tổng nhu cầu lên tới khoảng 12–13 triệu tấn, tức là nguồn nội địa chỉ đáp ứng dưới 10%.

Đối với sắn, Việt Nam có sản lượng nhưng phần lớn được sử dụng cho xuất khẩu, đặc biệt là sang Trung Quốc. Sắn cũng có thể dùng làm nguyên liệu thức ăn chăn nuôi do cung cấp năng lượng tương tự ngô, nhưng hiệu quả sử dụng phụ thuộc vào tương quan giá giữa ngô và sắn. Ngoài ra, chất lượng và độ đồng nhất của sắn không ổn định, nên các nhà máy ít sử dụng do rủi ro về chất lượng.

Nguồn nguyên liệu trong nước đáng kể là cám gạo, với sản lượng khoảng 4,3 triệu tấn, và phần này hoàn toàn chủ động, thậm chí còn xuất khẩu. Bên cạnh đó, khoảng 50% nguyên liệu từ lúa mì thông qua các nhà máy xay xát trong nước ở cả miền Bắc và miền Nam.

Nhìn chung, các nguyên liệu có lợi thế trong nước đều được tận dụng tối đa. Tuy nhiên, tổng quy mô vẫn còn hạn chế. Đối với các nguyên liệu như amino acid và một số phụ gia, hiện Việt Nam chưa sản xuất được, nên vẫn phải phụ thuộc vào nhập khẩu

Kết thúc đại hội, tất cả tờ trình đều được thông qua.

Thuỳ Linh

Lãnh đạo Nông nghiệp Hòa Phát: Từ quý II chi phí sẽ leo thang, giá heo có thể tăng 7–8%
Tại buổi họp thường niên, lãnh đạo Nông nghiệp Hòa Phát đã chia sẻ về kết quả kinh doanh, kế hoạch năm 2026, chiến lược đầu tư đến 2030, cùng các vấn đề trọng tâm như biến động chi phí đầu vào, chu kỳ ngành chăn nuôi, lựa chọn con giống và định hướng phát triển chuỗi giá trị.