|
 Thuật ngữ VietnamBiz
Quốc tế

Giải mã nghịch lý: Vì sao Mỹ phải nhập khẩu 8 triệu thùng dầu mỗi ngày dù mang danh 'ông vua' sản lượng?

19:06 | 07/01/2026
Chia sẻ
Là quốc gia chiến thắng trong cuộc đua khai thác dầu mỏ toàn cầu, Mỹ vẫn đang nhập khẩu hơn 8 triệu thùng nhiên liệu hoá thạch mỗi ngày.

Các giàn bơm dầu tại thành phố Midland, bang Texas, Mỹ. (Ảnh: Bloomberg).

“Ông vua” của cuộc đua sản lượng

Tính đến năm 2024, các công ty năng lượng Mỹ đã xác lập một chuỗi thành tích mà không thành viên nào của liên minh quyền lực OPEC bì kịp: 7 năm liên tiếp đứng đầu thế giới về sản lượng dầu thô.

Nhờ cuộc cách mạng dầu đá phiến bắt đầu từ giữa những năm 2000, sản lượng dầu thô của Mỹ đã bùng nổ mạnh mẽ trong thập niên 2010 và cuối cùng giúp nước này trở thành nhà sản xuất lớn nhất thế giới vào năm 2018.

Dữ liệu từ Cơ quan Thông tin Năng lượng (EIA) cho thấy vào năm 2024, sản lượng dầu thô của Mỹ đạt hơn 13,2 triệu thùng/ngày, phá vỡ kỷ lục toàn cầu trước đó là 12,9 triệu thùng. Mức đỉnh cũ do chính Mỹ thiết lập vào năm 2023.

Sản lượng trung bình hàng tháng của Mỹ ghi nhận kỷ lục mới vào tháng 8/2024 ở mức 13,4 triệu thùng/ngày. Hồi năm 2005, thời điểm cuộc cách mạng dầu đá phiến bắt đầu, sản lượng trung bình hàng tháng của Mỹ chỉ đạt khoảng 5,2 triệu thùng.

 

Trong tương lai gần, hầu như không cường quốc dầu mỏ nào có khả năng san phẳng kỷ lục sản lượng của Mỹ vì cho đến nay chưa quốc gia nào khác đạt công suất 13 triệu thùng/ngày.

Trong năm 2024, sản lượng của Nga và Arab Saudi - hai nước còn lại trong top ba - đạt lần lượt 9,9 và 9,2 triệu thùng/ngày. Cùng nhau, Mỹ, Nga và Arab Saudi chiếm khoảng 40% sản lượng toàn cầu.

Nhờ năng lực khai thác khổng lồ và tăng theo thời gian, Mỹ đã trở thành đối trọng của liên minh OPEC trên thị trường năng lượng. Cả hai cùng nhau chia sẻ quyền định giá đối với sản phẩm “huyết mạch” của nền kinh tế thế giới.

Dữ liệu cho thấy trong năm 2024, trung bình mỗi ngày Mỹ xuất khẩu khoảng 10,7 triệu thùng dầu thô và các sản phẩm tinh chế khác. Trong đó, xuất khẩu dầu thô đạt 4 triệu thùng/ngày, chiếm 40% tổng khối lượng xuất khẩu.

Tuy nhiên, điều gây khó hiểu là Mỹ vẫn nhập khẩu một lượng lớn dầu. Theo EIA, nền kinh tế số một thế giới đã nhập khẩu khoảng 8,4 triệu thùng dầu mỏ nói chung trong năm 2024.

Nhập khẩu dầu thô đạt khoảng 6,6 triệu thùng/ngày, chiếm 76% tổng khối lượng nhập khẩu. 5 quốc gia cung ứng dầu thô hàng đầu cho Mỹ là Canada, Mexico, Arab Saudi, Iraq và Brazil.

Do sự chênh lệch trong cán cân thương mại dầu mỏ, kết quả cuối cùng cho thấy Mỹ chỉ xuất khẩu ròng 2,3 triệu thùng dầu thô và các sản phẩm tinh chế khác mỗi ngày trong năm 2024, thấp hơn đáng kể Nga hay Arab Saudi.

 

Mỹ - nước sản xuất dầu mỏ lớn nhất thế giới - phải nhập khẩu dầu mỏ. Điều này chẳng khác nào một cường quốc sản xuất lúa gạo lại phải nhập khẩu gạo. Tại sao lại có nghịch lý như vậy?

Lời giải cho nghịch lý

Câu trả lời cho nghịch lý nói trên nằm ở loại dầu thô mà Mỹ khai thác và chế biến. Thế giới có nhiều quy chuẩn để phân loại dầu thô và hệ thống phổ biến bậc nhất là so sánh độ đậm đặc dựa trên chỉ số API do Viện Dầu khí Mỹ đề xuất.

Theo cách phân loại đó, dầu thô được phân thành 4 nhóm gồm dầu nhẹ, dầu trung bình, dầu nặng và dầu siêu nặng.

Dầu nhẹ đạt chỉ số API trên 31,1°, lỏng hơn và có độ nhớt thấp hơn. Loại dầu này có giá trị cao vì chứa nhiều hydrocarbon hơn, dễ dàng vận chuyển và dễ dàng tinh chế thành xăng cũng như dầu diesel.

Dầu trung bình có chỉ số API từ 22,3° đến 31,1°. Đây là loại dầu đa dụng, có thể chế biến thành nhiều sản phẩm khác nhau. Nó cân bằng giữa dầu nhẹ và dầu nặng về mức độ dễ vận chuyển và tinh chế.

Dầu nặng có chỉ số API từ 10° đến 22,3°. Dầu nặng thường đặc hơn, có độ nhớt cao hơn nên việc khai thác, vận chuyển và tinh chế khó hơn.

Dầu siêu nặng có API dưới 10°. Tuy nhiên, bài viết sẽ tập trung vào ba nhóm chính nêu phía trên.

Brent - loại dầu thô tiêu chuẩn trên thị trường năng lượng toàn cầu - có chỉ số API là 38,3°. Trong khi đó, dầu WTI của Mỹ có API khoảng 39,6°. Điều này đồng nghĩa rằng dầu WTI nhẹ hơn một chút so với Brent. Tuy nhiên, cả hai đều thuộc loại dầu nhẹ.

 

Dữ liệu từ EIA cho thấy trong giai đoạn 2015 - 2024, Mỹ khai thác ngày càng ít dầu nặng trong khi sản lượng dầu trung bình và dầu nhẹ ngày càng tăng cao, như thể hiện trong biểu đồ bên dưới.

Theo lẽ thường, Mỹ chỉ cần chế biến số dầu thô mà họ khai thác để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ hàng ngày hoặc thậm chí phục vụ mục đích xuất khẩu.

Vấn đề nằm ở chỗ hệ thống các nhà máy lọc dầu của Mỹ, vốn được xây dựng từ hơn một thế kỷ trước, chủ yếu được thiết kế để chế biến dầu nặng do giá dầu nặng thường rẻ hơn hai loại còn lại.

Điều này sẽ tạo ra lợi thế rõ rệt về mặt kinh tế khi hoạt động chế biến diễn ra trên quy mô lớn, giúp nâng cao biên lợi nhuận của các doanh nghiệp lọc dầu.

 

Nếu các doanh nghiệp xây dựng lại hệ thống nhà máy lọc dầu để chế biến lượng lớn dầu trung bình và dầu nhẹ mà Mỹ khai thác được, họ sẽ cần một lượng vốn khổng lồ.

Chưa kể, khoảng thời gian giữa lúc xây dựng nhà máy mới và khi nhà máy chính thức đi vào vận hành sẽ làm gián đoạn đáng kể hoạt động kinh tế do rủi ro thiếu nhiên liệu. Điều này đặc biệt đáng ngại với một nền kinh tế quy mô lớn và cực kỳ năng động như Mỹ.

Xét về lâu dài, việc xây dựng lại hệ thống lọc dầu có thể khiến Mỹ đánh mất vị thế nhà sản xuất dầu mỏ lớn nhất thế giới, từ đó đẩy quyền định giá và các ảnh hưởng kinh tế đi kèm vào tay tổ chức đối trọng OPEC.

Vì lẽ đó, Mỹ phải xuất khẩu số sản phẩm dầu mỏ được chế biến từ dầu trung bình và dầu nhẹ, đồng thời nhập khẩu dầu nặng từ nước ngoài về.

Theo dữ liệu của EIA, lượng dầu nặng chỉ chiếm hơn 12% tổng lượng dầu thô nhập khẩu hàng năm của Mỹ vào thập niên 1970 nhưng đã tăng vọt lên 67% vào năm 2024.

 

Dựa theo bản đồ từ Tạp chí Oil Sands, ta có thể thấy các nhà máy lọc dầu của Mỹ đang tập trung chủ yếu ở hai khu vực.

Nhóm đầu tiên tập trung quanh khu vực tiếp giáp biên giới với Canada - nhà cung ứng dầu lớn nhất của Mỹ hiện tại. Nhóm thứ hai tập trung ở phía nam, quanh khu vực bang Texas và Louisiana, để xử lý dầu nhập khẩu từ Mexico và Venezuela.

So với hai nước láng giềng của Mỹ là Canada và Mexico, Venezuela có khả năng cung ứng nguồn dầu thô ổn định hơn, một phần vì nước này có trữ lượng dầu lớn nhất thế giới.

Trên thực tế, trong thập niên 1990, Venezuela từng là nhà cung ứng dầu lớn nhất của Mỹ, trước khi một loạt biến cố ập đến và đánh gục ngành năng lượng của nước này.

 

Tiềm năng của Venezuela

Sở hữu hơn 303 tỷ thùng dầu thô dưới lòng đất, Venezuela là quốc gia có trữ lượng lớn nhất thế giới vào năm 2023, theo Tạp chí Dầu khí. Con số này tương đương khoảng 20% tổng trữ lượng toàn cầu.

Arab Saudi xếp thứ hai với trữ lượng 267,2 tỷ thùng, theo sau là Iran với 208,6 tỷ thùng và Canada với 163,6 tỷ thùng. Trữ lượng của Mỹ đạt khoảng 55 tỷ thùng, xếp thứ 9 thế giới và chỉ tương đương 1/5 của Venezuela.

Trữ lượng dầu thô của Venezuela tập trung ở Vành đai Orinoco, một khu vực rộng lớn ở phía đông đất nước với diện tích 55.000 km2. Vành đai này chứa dầu nặng có độ đậm đặc cao, phù hợp với năng lực chế biến của các nhà máy lọc dầu Mỹ.

Hoạt động sản xuất dầu tại Venezuela chủ yếu do công ty nhà nước PDVSA (Petroleos de Venezuela) kiểm soát. Công ty này cũng nắm phần lớn hoạt động khai thác ở Vành đai Orinoco.

 

Trong thập niên 1960 - 1970, ngành dầu mỏ Venezuela đã chứng kiến nhiều cột mốc chói lọi. Nước này là một trong 5 thành viên sáng lập liên minh OPEC và từng là một nhà xuất khẩu dầu lớn, nắm quyền kiểm soát giá dầu.

Sản lượng dầu thô của Venezuela đạt đỉnh vào năm 1997 ở mức gần 3,2 triệu thùng/ngày. Và trong thập niên đó, Mỹ là khách hàng lớn nhất của dầu mỏ Venezuela, nhập khẩu trung bình 1,5 đến 2 triệu thùng/ngày.

Tuy nhiên, hoạt động khai thác và xuất khẩu dầu của Venezuela bắt đầu lao dốc sau khi Tổng thống Hugo Chavez lên nắm quyền vào năm 1998.

Ông Chavez đã thực hiện nhiều chính sách tác động sâu sắc đến ngành năng lượng địa phương như quốc hữu hoá tài sản, tái cơ cấu PDVSA và ưu tiên các mục tiêu chính trị trong nước hơn các thị trường xuất khẩu truyền thống.

Cùng với những cải cách kể trên, bất ổn chính trị liên miên, quản lý yếu kém tại PDVSA và đầu tư không đủ vào cơ sở hạ tầng đã khiến sản lượng dầu mỏ của Venezuela lao dốc nặng nề.

Tình hình trở nên tồi tệ hơn dưới thời Tổng thống Nicholas Maduro. Căng thẳng leo thang đã thúc đẩy chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump lần đầu áp đặt trừng phạt lên Venezuela vào năm 2017, sau đó thắt chặt hơn nữa vào năm 2019.

Các biện pháp trừng phạt của Washington khiến Venezuela không thể bán dầu sang Mỹ, đồng thời các doanh nghiệp Venezuela cũng không thể tiếp cận nguồn vốn quốc tế, khiến hoạt động khai thác dầu trong nước càng thêm đình trệ.

Kết quả là, xuất khẩu dầu sang Mỹ gần như chấm dứt hoàn toàn và Venezuela phải vận chuyển phần lớn sản phẩm sang Trung Quốc cùng các quốc gia khác như Ấn Độ và Cuba.

Theo dữ liệu từ nền tảng Observatory of Economic Complexity, Venezuela chỉ xuất khẩu khoảng 4,05 tỷ USD dầu thô vào năm 2023 - thấp hơn nhiều so với các nhà xuất khẩu lớn khác như Arab Saudi (181 tỷ USD) và Nga (122 tỷ USD).

 

Sau chuỗi biến động chính trị tại Venezuela hồi cuối tuần trước, ông Trump cho biết các doanh nghiệp Mỹ có thể tham gia tái thiết ngành năng lượng Venezuela.

Vào ngày 9/1 tới, chủ nhân Nhà Trắng dự kiến sẽ gặp mặt lãnh đạo các ông lớn dầu khí Mỹ như Chevron, ExxonMobil và ConocoPhillips để thảo luận về kế hoạch đó, theo đưa tin từ Wall Street Journal.

Nếu ngành năng lượng Venezuela có thể quay trở lại thời hoàng kim cách đây hàng chục năm, nguồn cung dầu nặng cho các cơ sở lọc dầu Mỹ có khả năng sẽ tăng trở lại.

Yên Khê