Báo cáo: Người Việt Nam quét mã QR nhiều nhất khu vực, nhưng vì sao các chủ shop vẫn chưa hài lòng?
Thanh toán kỹ thuật số dự báo sẽ chiếm 97% tổng giao dịch TMĐT vào năm 2029
2C2P - Antom vừa công bố báo cáo “Cách Đông Nam Á mua sắm và thanh toán năm 2026: Khai phá tiềm năng của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ”.
Theo Báo cáo, thị trường thương mại điện tử Đông Nam Á dự kiến tăng 85,4%, đạt mức 289,8 tỷ USD vào năm 2029.
Thanh toán kỹ thuật số được dự báo sẽ chiếm 97% tổng giao dịch thương mại điện tử vào năm 2029, tăng từ mức 89% của năm 2024. Sự tăng trưởng mạnh nhất được kỳ vọng đến từ các phương thức thanh toán nội địa (bao gồm thanh toán thời gian thực và các hệ thống thanh toán qua ngân hàng địa phương) cùng ví điện tử, đặc biệt tại các thị trường như Indonesia, Thái Lan và Việt Nam.
Sự tăng trưởng của thanh toán kỹ thuật số trên thị trường thương mại điện tử Đông Nam Á giai đoạn 2024 - 2029 được dự báo qua nhiều phương thức, bao gồm.
Tăng trưởng 104% đối với thanh toán nội địa, ví dụ: thanh toán thời gian thực và các hệ thống thanh toán qua ngân hàng địa phương, dự kiến tăng lên mức 92 tỷ USD vào năm 2029 từ mức 45,1 tỷ USD của năm 2024. Theo đó, thanh toán nội địa sẽ trở thành phân khúc đóng góp lớn nhất vào lĩnh vực thanh toán kỹ thuật số tại Đông Nam Á vào năm 2029, chiếm khoảng 32% toàn ngành và thay thế cho thẻ.
Tăng trưởng 107% đối với ví điện tử, với dự báo đạt 79 tỷ USD vào năm 2029 từ mức 38,2 tỷ USD của năm 2024. Ví điện tử sẽ chiếm 27% thị phần thương mại điện tử vào năm 2029, tăng so với mức 24% của năm 2024.
Tăng trưởng 174% đối với dịch vụ Mua trước Trả sau (BNPL - Buy Now Pay Later) dự kiến đạt 18,9 tỷ USD vào năm 2029, so với mức 6,9 tỷ USD của năm 2024.
Ngoài ra, theo Ngân hàng Thế giới, với 56% dân số trong khu vực vẫn chưa sử dụng thẻ, các giải pháp thanh toán kỹ thuật số này giúp giải quyết những lỗ hổng cấu trúc như tỷ lệ phổ cập thẻ thấp, tỷ lệ dân số chưa có tài khoản ngân hàng cao và khả năng tiếp cận hạ tầng ngân hàng truyền thống còn hạn chế.
Đặc biệt, các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) dự kiến đóng góp 58% thị phần thương mại điện tử Đông Nam Á vào năm 2029, song đang phải đối mặt với nhiều thách thức số hóa.
Khảo sát trên toàn khu vực Đông Nam Á của Báo cáo cho thấy 66% các SME hiện đã bán hàng trực tuyến, phản ánh sự tham gia ngày càng tăng vào nền kinh tế số. Tuy nhiên, mức độ phát triển kỹ thuật số không đồng đều vẫn tồn tại, khi 1/3 số SME tham gia khảo sát vẫn phụ thuộc nhiều vào tiền mặt trong vận hành hàng ngày, kể cả tại các thị trường phát triển hơn như Singapore.
Thực trạng này bắt nguồn từ những rào cản dai dẳng như sự phức tạp trong tích hợp hệ thống, lo ngại về gian lận, chi phí cao và hạn chế về hạ tầng. Những thách thức này biểu hiện khác nhau ở mỗi thị trường - từ sự thiếu hụt về hạ tầng và kết nối tại Indonesia và Philippines, đến những lo ngại về bảo mật và tích hợp tại Singapore và Việt Nam, hay áp lực về chi phí và quy định tại Malaysia và Thái Lan - đang gây hạn chế khả năng tối ưu hóa vận hành và mở rộng quy mô của các SME.
Đáng chú ý, có đến 63% SME cho biết hệ thống thanh toán hiện tại của họ cần được nâng cấp hoặc thay thế hoàn toàn để bắt kịp các xu hướng thanh toán mới.
Dù hiện chỉ có 49% SME được khảo sát đang thực hiện giao dịch xuyên biên giới, song lại có đến 3/4 đơn vị có kế hoạch mở rộng kinh doanh ra quốc tế trong vòng hai năm tới. Tham vọng này đặc biệt rõ rệt tại các thị trường như Indonesia và Thái Lan, nơi các SME đang đặt ưu tiên hàng đầu vào việc tiếp cận các phân khúc khách hàng mới.
IDC ước tính rằng việc thúc đẩy các SME tham gia sâu rộng hơn vào thương mại điện tử xuyên biên giới có thể mang lại thêm 20,8 tỷ USD doanh thu vào năm 2029, giúp nâng giá trị thương mại điện tử của toàn khu vực lên thêm 7,1%.
Ông Worachat Luxkanalode, Tổng Giám đốc Tập đoàn 2C2P by Antom nhận định: “Các doanh nghiệp Đông Nam Á, đặc biệt là SME, chính là trụ cột thúc đẩy kinh tế khi đóng góp hơn 50% GDP tại các thị trường trọng điểm và tạo việc làm cho 64,6% lực lượng lao động. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp trong số đó vẫn đang gặp không ít trở ngại trong quá trình chuyển đổi số.
Khi hệ sinh thái thanh toán tại các thị trường đang chuyển mình nhanh chóng, doanh nghiệp cần những giải pháp giúp đơn giản hóa quy trình vận hành, hỗ trợ đa dạng các phương thức thanh toán nội địa và tạo đà để mở rộng quy mô xuyên biên giới.
Với nền tảng thanh toán tiêu chuẩn doanh nghiệp của chúng tôi, các đơn vị có thể giải quyết những thách thức này chỉ thông qua một cổng kết nối Giao diện Lập trình Ứng dụng (API) duy nhất, từ đó khai mở các cơ hội mới và tham gia trọn vẹn vào nền kinh tế số đầy tiềm năng của khu vực.”
Sự khác biệt trong thách thức thanh toán số của Việt Nam so với hàng xóm Đông Nam Á
Cụ thể hơn, tại Việt Nam, tốc độ áp dụng ví điện tử và các hệ thống thanh toán nội địa (như VietQR) diễn ra nhanh chóng. Và các ưu tiên hàng đầu của các SME là: Ra mắt sản phẩm/dịch vụ mới (30%), nâng cấp các công cụ kỹ thuật số (30%), cải thiện thanh toán (30%).
Còn 3 thách thức chính của các SME Việt Nam khi nhận thanh toán số là những lo ngại về bảo mật (35%), hỗ trợ thanh toán quốc tế còn hạn chế (30%), các vấn đề về tích hợp dữ liệu (30%); rào cản lớn nhất khi số hóa là khoảng cách về tính sẵn có của sản phẩm và nhu cầu phát triển hạ tầng.
Tuy nhiên, triển vọng của thị trường Việt Nam là ai cũng có thể thấy, đây là thị trường tăng trưởng nhanh nhất với động lực số hóa mạnh mẽ, song đòi hỏi sự phát triển liên tục về hạ tầng và năng lực.
Với thị trường Thái Lan, sự tăng trưởng mạnh mẽ của thanh toán thời gian thực (PromptPay) nhờ sự hỗ trợ từ các sáng kiến của Chính phủ là nổi bật nhất. Các ưu tiên hàng đầu của SME ở thị trường này là mở rộng thị trường (31%), cải thiện các giải pháp thanh toán (31%), quản lý tài chính (25%).
Còn ba thách thức lớn nhất là chi phí cao (36%), lo ngại về gian lận (28%), các vấn đề về tích hợp (28%). Rào cản số hóa lớn nhất với các SME Thái là áp lực về chi phí và sự phức tạp khi tích hợp hệ thống.
Tuy nhiên, các SME của Thái Lan cũng đang cố gắng tận dụng thanh toán kỹ thuật số để thúc đẩy tăng trưởng xuyên biên giới và du lịch.
(Ảnh: expatden.com)
Với thị trường Singapore, việc sử dụng thẻ để thanh toán chiếm ưu thế cao, cùng với sự gia tăng áp dụng dịch vụ Mua trước Trả sau (BNPL) trong nhóm người tiêu dùng trẻ. Dù thế, 33% SMEs vẫn ghi nhận tỷ lệ sử dụng tiền mặt cao, cho thấy sự tiếp nhận kỹ thuật số không đồng đều ngay cả ở một thị trường đã phát triển.
Vậy nên, các ưu tiên hàng đầu của SME tại đây là cải thiện trải nghiệm khách hàng (30%), ra mắt sản phẩm/dịch vụ mới (28%), thu hút nhân tài (28%). Còn 3 thách thức chính là chi phí cao (33%), quyết toán chậm (32%), thiếu tối ưu hóa trên thiết bị di động (31%). Theo các SME Singapore, thì điều họ lo ngại nhất khi số hóa thanh toán là bảo mật dữ liệu và các thách thức trong tích hợp hệ thống dù có hạ tầng tiên tiến.
Có thể nói, môi trường phát triển ở Singapore cao song cạnh tranh gay gắt, đòi hỏi sự đổi mới và tối ưu hóa thay vì chỉ áp dụng các công cụ kỹ thuật số cơ bản.
Còn với Malaysia, thị trường này có hệ sinh thái thanh toán số khá cân bằng với việc gia tăng sử dụng thẻ, ví điện tử và dịch vụ Mua trước Trả sau (BNPL). Còn các ưu tiên hàng đầu của SME khi sử dụng thanh toán số là giảm chi phí vận hành (30%), tăng doanh thu (28%), cải thiện các giải pháp thanh toán (28%).
Ngoài ra, 3 thách thức lớn nhất của Malaysia cũng khá giống các nước khác, là lo ngại về bảo mật và gian lận (35%), các lựa chọn thanh toán còn hạn chế (35%), sự phức tạp khi tích hợp (32%). Còn rào cản lớn nhất chính là chi phí giao dịch cao và sự phức tạp về quy định/thuế.
Tại thị trường này, các SME chọn tập trung vào hiệu quả và bảo vệ biên lợi nhuận song song với việc nâng cấp năng lực thanh toán.
Cuối cùng là Philippines, ưu điểm của SME ở thị trường này là tốc độ áp dụng nhanh chóng ở tất cả các loại hình thanh toán khi ngày càng có nhiều người tiêu dùng chuyển sang mua sắm trực tuyến. Còn các ưu tiên hàng đầu là cắt giảm chi phí (30%), củng cố chuỗi cung ứng (29%), xây dựng nhận diện thương hiệu (28%).
Theo SMEs Philippines, ba thách thức lớn nhất mà họ phải đối mặt hàng ngày khi tiến hành nhận thanh toán số là lỗi giao dịch (35%), các vấn đề về tích hợp dữ liệu (35%), quyết toán chậm (32%); còn rào cản lớn nhất khi số hóa là hạn chế về hạ tầng và tính ổn định của dịch vụ không đồng nhất.